Linh Tinh Phố Rùm Bài Viết Gia Chánh Lời Tình K Truyện Chọn Lọc Thơ Tình
Trở lại trang đầu
Đi Vào Phố Hồ Sơ Cá Nhân Thư Riêng (Private Message) Các Bài Đăng Từ Lần Cuối Bạn Vào Các Bài Đăng Ngày Hôm Nay Lịch Sinh Hoạt Ghi Danh Trở Thành Thành Viên của Phố Rùm Những Câu Hỏi Thường Gặp Danh Sách Các Thành Viên
Phố này chỉ để xem lại bài cũ, không còn đăng bài mới lên được. Xin mời các bạn qua thăm Phố Rùm mới .
Phòng ẢNH

Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường

 
Xem những đề mục liên hệ: (trong diễn đàn này | trong mọi diễn đàn)

Tham gia dưới tên: Guest
  In Ra
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Khoa Huyền Bí Học >> Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường Trang: [1]
Tên login:
Thân bài << Đề Mục Cũ   Đề Mục Mới >>
Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/7/2008 5:28:05 AM   
siliconband

 

Bài: 180
Từ: Thôn Bọ Ngựa
Hội Từ Bi Phụng Sự tại Pháp trân trọng mời các  bạn đến tham dự Pháp Hội 2008 sẽ được tổ chức từ ngày 19/4 đến 27/4/2008 tại WAT Thammapathip , Chùa Thái ở cách Paris 30km.

Ngoài phần luyện tập Càn Khôn Thập Linh cho thân thể được khoẻ mạnh, thầy Hằng Trường sẽ giảng về Luật Nhân Quả dưới con mắt của Phật Giáo Thế Kỷ 21 và  Mô Hình Tu Toàn Diện, làm thế nào để Giải Nghiệp, và vấn đáp với đại chúng.

Để biết thêm chi tiết và ghi danh, xin bấm vào  trang web duới đây :

http://nmchau.club.fr/cssfr/newsvn.html

nmchau
The Silicon Band

< Sửa đổi: siliconband -- 1/8/2008 12:37:13 AM >
Bài số: 1
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/16/2008 7:27:54 AM   
nguyenductrong

 

Bài: 329
Trân trọng cảm ơn anh Minh Châu đã thông báo tin tức.  Tôi phải chuyển tin này cho bạn bè tôi bên Pháp để họ thu xếp mà tham dự mới được.

NDT

(trả lời: siliconband)
Bài số: 2
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/16/2008 2:36:55 PM   
siliconband

 

Bài: 180
Từ: Thôn Bọ Ngựa
Dạ cám ơn anh Trọng. Bên Pháp thầy qua mồi năm có một lần , có năm còn không qua nên gạp dịp này không nên bỏ qua :-)

A thấy trong Pháp Võng có Dong Truc hay goi mail , co phai là anh noi  lái lại không? Đức Trọng Đóng Trực đó mà :-)

(trả lời: nguyenductrong)
Bài số: 3
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/17/2008 9:09:02 AM   
nguyenductrong

 

Bài: 329
quote:

Trích đoạn: siliconband

A thấy trong Pháp Võng có Dong Truc hay goi mail , co phai là anh noi  lái lại không? Đức Trọng Đóng Trực đó mà :-)


Anh Minh Châu ơi,
Có lẻ là bạn "Dong Truc" nào đó thôi anh ạ!  Tôi sợ những màn nói lái lắm, nhứt là nói lái kiểu người Nam... đúng là hết xẩy!  Còn màn "lái lân" kiểu miền Trung... nghe cứ như là nói tiếng Miên tiếng Mọi.
Tôi cũng có xài biệt hiệu YRX cho vui, nhưng lại làm bà con sợ, nên thôi hổng xài nữa! :-))
Cảm ơn anh đã dịch giùm bài viết, sao anh lắm tài thế?! :-))

NDT  

(trả lời: siliconband)
Bài số: 4
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/17/2008 1:37:18 PM   
siliconband

 

Bài: 180
Từ: Thôn Bọ Ngựa







< Sửa đổi: siliconband -- 1/17/2008 1:44:46 PM >

(trả lời: nguyenductrong)
Bài số: 5
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 1/17/2008 1:51:41 PM   
siliconband

 

Bài: 180
Từ: Thôn Bọ Ngựa
quote:

Cảm ơn anh đã dịch giùm bài viết, sao anh lắm tài thế?! :-))
quote:

Trích đoạn:



Dạ chào anh Trọng,

Có tài chi đâu anh ơi, số là mấy tháng nay hãng tôi ở tình trạng "Thân Trung Hữu " nên tôi vào sở không làm  gì khác ngoài việc ngồi dịck kinh cho tây coi , nhờ vậy  khi đọc bài của anh thì dịch cũng nhanh lắm. 

nmchau


(trả lời: siliconband)
Bài số: 6
RE: Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường - 2/10/2008 2:11:08 AM   
siliconband

 

Bài: 180
Từ: Thôn Bọ Ngựa
Pháp Hội Chú Ðại Bi tháng 4- 2006 tại Pháp

Trọng & Tuyến



Vào ngày đầu weekend đen nhất của tháng tư, chúng tôi theo dòng xe đen đặc cuồn cuộn trôi về phía nam Paris.  Ðen vì nó mở ra tuần lễ Phục Sinh, một số đông dân thành phố rã rời -mệt mỏi kể từ sau lần lễ nghỉ trước, nghĩa là hơn hai tháng rồi-, hối hả tìm về núi non, đồng ruộng hay biển cả, để trút bỏ những bận bịu lo âu, để "sạc" lại bình, đổ xăng nhớt cho đầy hầu tiếp tục cuộc sống.  Chúng tôi cũng mệt mỏi, cũng hối hả  tìm (nhiên liệu khác) cũng bơi lội trong một thứ rộn ràng khó tả, nhưng tìm về một vùng mặt trời khác, cho nên chúng tôi tách khỏi "xa lộ mặt trời" này khi vừa qua khỏi Fontainebleau mà không ghé lại.

Cách tháp Eiffel non 80 cây số, Fontainebleau nổi tiếng với khu rừng đẹp nơi dân Paris đến dạo hay đi dạo hay chạy bộ cuối tuần, Fontainebleau có lâu đài lịch sử đã từng đón tiếp 34 vị vua nước Pháp, trong đó có ông vua mập Louis VI (Louis le gros), Napoléon Ðại đế, và Napoléon đệ tam, hoàng đế đã ra lệnh xâm chiếm Việt Nam vào thế kỷ 19.

Chúng tôi dừng xe tại trang trại St Pierre, thuộc làng Gironville, được Ban trị sự Hội Từ Bi Phụng Sự nhánh nước Pháp chọn làm nơi tổ chức Pháp Hội Ðại Bi do thầy CE Hằng Trường hướng dẫn.

Trang trại Saint Pierre

Trang trại lớn gồm bốn dãy nhà hai tầng xếp quanh một vuông sân lớn, một dãy sẽ là nơi chúng tôi nghe giảng, sinh hoạt, ăn uống, và cũng là chỗ ngủ buổi tối với phía trên và ngoài cùng là một hai phòng nhỏ.  Bao quanh khu trại là những đồng cỏ xanh mượt uốn lượn những gợn sóng dài đến tận chân trời, đó đây đậm nét chấm phá vài hàng cây bạch dương nhọn đỉnh, vài khóm cây vây bọc một nông trại lẻ loi[1].

Khi chúng tôi tới, căn trại dành cho Pháp Hội đã gần đông đầy những mái tóc đen, những dáng người nhỏ nhắn, tiếng Việt râm ran nói cười.  Vui quá, nhận ra ngay những gương mặt bạn, có hẹn lẫn không hẹn.

Như mọi người, chúng tôi được phát bảng tên với dây đeo cổ xanh lá cây (cho những người theo trọn khoá học một tuần) và dây màu thiên thanh (cho người chỉ ở trong week end 3 ngày).  Chi phí ăn ở 55 euros cho ba ngày này và 135 euros cho mỗi người một tuần[2]

Từ cửa vào, bên cực trái gian phòng rộng một bàn thờ Phật thật lớn được dựng lên với nhang đèn, hoa quả và bức tranh vẽ hình Phật thiên nhãn thiên thủ với hai màu chính cam và đỏ sắc thật tươi[3], bên dưới là ghế và một chiếc bàn nhỏ.  Các giàn đèn,  micro, loa phóng thanh ...xếp đặt sẵn sàng.  Khoảng giữa phòng dài khoảng bốn mươi mét là nơi chúng tôi ngồi xếp bằng quay mặt về phía bàn thờ nghe thầy giảng, sau lưng chúng tôi, phía phải là nhà bếp, 3 phòng tắm và 3 nhà cầu, trước khi đến một phòng dortoir khác, trên lầu là phòng sinh hoạt cho trẻ con.

Nhiều bảng chỉ dẫn, thời khoá biểu, tên người trách nhiệm, nội quy treo ngay các cửa chính và cửa phòng vệ sinh, nhà bếp cho thấy Ban trị sự có kinh nghiệm tổ chức (họ đã từng mời thầy Hằng Trường, lần cuối vào tháng 4 năm ngoái).  Tuy ban trách nhiệm đã giới thiệu mọi người trong nhóm nhưng phải đến mấy hôm sau, chúng tôi mới làm quen nhau, biết được thêm nhiều "bạn đồng hội", và nhớ rõ danh tính mặt mũi ban tổ chức.  Nhất là nhờ thầy Hằng Trường vào ngày cuối gọi tên và khen ngợi từng người.

Khoảng hơn một trăm người Việt từ nhiều nơi ở Âu châu đến tham dự pháp hội. Một số khác từ Mỹ, Canada.  Chưa kể học trò Thầy tại Mỹ châu, chịu khó vượt Ðại Tây Dương sang Pháp  phụ thầy chỉ dẫn cho chúng tôi môn taichi tổng hợp, và cũng để nghe Chú Ðại Bi, đây là lần đầu tiên thầy giảng về đề tài này.

Nhóm thiếu nhi có nhóc chưa biết đi và mấy cô bé 12, 14 tuổi, nói với nhau tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt.  Các cháu được hướng dẫn sinh hoạt riêng, ăn riêng.  Trong ban hướng dẫn trừ anh trưởng ban ra, một cô người Pháp và ông bà Hương Lan – Sơn Dân cùng các con người Đài Loan không hiểu tiếng Việt[4] (nên ít khi ngồi nghe giảng, một phần cũng vì họ lo cho bọn trẻ con), những hôm cuối, họ hướng dẫn tất cả các cháu tụ họp đông đủ ra múa hát  và trình bày các tác phẩm hoạ, viết calligraphy, rất độc đáo. 

Một số khá lớn là Phật tử các chùa vùng Paris và từ nhiều nơi trên nước Pháp như Lyon, Marseille, Normandie; có người đến từ nước lân cận như Lục Xâm Bảo, Thụy sĩ.  Phần còn lại không phải Phật tử, có người vô thần hoặc theo đạo Thiên chúa.  Tuy trong chương trình Pháp hội có ghi "luyện tập Càn Khôn Thập Linh và Yoga", nhưng điểm chánh vẫn là nghe thầy giảng giải "chú Ðại Bi, và căn bản Thiền".

Chương trình chi tiết dán trên cửa : 6 giờ sáng tập yoga và thiền, ăn sáng, rồi "chấp tác" và... tắm douche, tu học, ăn trưa, rồi lại "chấp tác" và... tắm douche, tu học, ăn chiều, "chấp tác" và... tắm douche, tu học.  Suốt tuần, chương trình chỉ có từng đó, cùng giờ giấc.  Ðiều khiến chúng tôi lưu ý và buồn cười kháo nhau là cái vụ tắm douche.
Kháo nhau hay bệnh ưa nói chuyện hàng ngang là bệnh Việt kiều ở Pháp, đó là lời thầy Hằng trường rầy chúng tôi vài hôm sau.  Vì đa số trong chúng tôi thuộc nhóm những người ngồi vài hàng đầu và ưa nói chuyện hàng ngang.  Thật vậy, ngay từ buổi đầu chúng tôi đã như thế.  Những người khác thì tôi không biết vì lí do gì lại ưa nói chuyện hàng ngang, nhưng riêng chúng tôi mong thầy rộng lượng tha thứ khi thầy biết rằng, chúng tôi tình cờ ba bốn cặp bất ngờ không rủ trước mà gặp lại nhau, sau một thời gian xa cách khá lâu, từ vài tháng đến hơn mười năm.  Và có với nhau hơn ba mươi lăm năm tình bạn thân/ sơ.  Không dám nêu thắc mắc thẳng với thầy mà lại hỏi nhau một chữ Hán Việt nghe không rõ hay không hiểu nghĩa.  Với lại, hỏi thầy thì sợ làm mất thì giờ người khác, đôi khi chúng tôi cũng lợi dụng "nói hàng ngang" lúc thầy bận trả lời bằng tiếng Anh tiếng Tàu.  Nhưng bị rầy cũng đáng đời, ngày xưa từ tiểu học đến trung học, ngồi nghe giảng bài mà nói chuyện riêng là bị thầy cô phạt ngay.  Còn từ đại học thì... đến giáo sư còn không đủ thời gian giảng nói chi đến các trò, chẳng ai thừa thì giờ nói (tiếng Việt !)

Chúng tôi hỏi nhau không biết tại sao mình cần tắm nhiều như vậy, phải chăng là dịp tốt để gội sạch mấy lớp bụi trần tích tụ bấy lâu nay? Và chỉ cần mười phút mỗi người.  Nhưng cà kê chậm chạp như tôi (Diệu Trí), chắc chắn chỉ vừa mới thoa xà bông là hết giờ.  Nên chúng tôi bàn nhau... tắm chung từng đôi, thì sẽ được những hai mươi phút, tha hồ mà xát... xà bông.  Nhưng mưu sự tại chúng tôi mà thành sự tại ban tổ chức: hỡi ơi, phòng douche nam nữ rìêng biệt. 

Thật ra, phải dè sẻn thời giờ vì cho khoảng trăm hai mươi người với vỏn vẹn ba chỗ tắm: một phòng tắm nam, một nữ và một cho người tàn tật... thì với mười phút vừa tắm vừa thay đồ, nếu mọi người đều đi tắm sẽ phải mất hơn sáu giờ mới xong!
Mà với chương trình học lí thuyết và kèm theo tập Càn Khôn Thập Linh, không thể không đi tắm sau mỗi lần tập, nhất là nếu tập cho đúng lời Thầy và các vị giảng viên: đổ mồ hôi thật nhiều!

Nhiều người chỉ nghe tăm tiếng Thầy Hằng Trường với chủ trương dạy tu toàn diện đạo Phật và tổng hợp môn khí công Ðông phương, nên tò mò ghi tên đi nghe, có người dự định chỉ đi week end mà thôi, "thử" cho biết mặt Thầy.  
Ðang hỏi nhau mấy giờ Thầy đến thì ban tổ chức cho hay chương trình bị thay đổi bất ngờ vì thầy phải đi dự hội nghị về hoà bình thế giới, chiều ngày mai Thầy mới tới Pháp được.  Mọi người thất vọng thấy rõ, nhất là quý vị chỉ ghi tên cho 3 ngày, coi như sẽ mất hết một phần ba thời gian, không có Thầy!

Thư Kinh Công và Thầy Hằng Đức

Nhưng may thay, sư đệ của Thầy Hằng Trường là Thầy Hằng Ðức đã có mặt, sẽ giảng kinh Tịnh Ðộ.  Hai Thầy  cùng sáng lập ra Hội Từ Bi Phụng Sự tại Mỹ.  Thầy Hằng Đức người gốc Tàu, sinh quán ở Mã Lai Á.
Vì vấn đề ngôn ngữ (thầy giảng tiếng Tàu và tiếng Anh) và có lẽ bài giảng không lôi cuốn vì phải qua người dịch (anh Minh và anh Hiển) ra tiếng Việt, dù người dịch rất giỏi và lưu loát, cử tọa có vẻ thiếu hứng thú lúc ban đầu.
Thầy Hằng Ðức quá sức... hiền.  Thầy cao và ốm nhom, hai tai dài rộng rất giống tai Phật (?), tiếng thầy nhẹ và nhỏ như gió thoảng.  Thầy giảng và cho bài qua màn ảnh computer.  Ða số là những bài kệ chữ (Hán) Việt và chữ Anh.

...Don't be regretted and being afflicted in vain
don't be again delayed and put this life in vain

...Căn độn chúng sinh nan tự ngộ...                   
...Thật tướng hồng danh luỡng tương tức
...Chúng sinh Di đà tính thế đồng...                      
…Di đà chúng sinh nguyên vô dị....

Ngày qua ngày tháng nối tháng                          
Thu vừa qua và đông đã hết                                      
Tuổi lớn lên nhưng đời sống giảm                       
Thời gian qua không bao giờ trở lại                    

...Chúng sinh Di Đà tính thế đồng
...Giác hải trung cụ tâm mộng đồng
...An trú Như lai tam muội hải
...Tốc chúng Bồ Đề thành pháp vương

Xen với phần giảng kinh, Thầy dạy chúng tôi tập các thế Thư Kinh Công.

Từ lúc đó cho đến hết khoá, hình như ngày nào cũng tập mà chúng tôi (lắm người) vẫn chưa thuộc (kinh lẫn) bài.  Ðến ngay tên Thư Kinh Công  lúc đầu hãy còn nhầm lẫn.  Người này nói Thư Kinh Kong (!!)  người kia Thư Kinh Cân, người khác lại lưỡng lự: Dịch Cân Kinh nữa!  Hình như Thầy có dạy cả hai môn này.  Thầy thường chỉ cười mỉm hiền lành, và vô cùng kiên nhẫn trước đám đệ tử chậm chạp.  Thầy dạy đi dạy lại, "chặt khúc" mọi cử động, biểu diễn thật từ tốn cho chúng tôi dễ bề lãnh hội[5].  Thầy nói tiếng Tàu và tiếng Anh, đôi khi tiếng Việt.  Nhưng như đã nói khi nãy  tiếng Thầy quá nhỏ, chúng tôi chỉ nghe và hiểu lõm bõm hai thứ tiếng sau.

Ðó là những thế nhẹ nhàng, hiền từ, y như thầy, một môn khí công giúp người tập thư giãn.
Thế đầu tiên rất dễ nhớ:  hai bàn tay chắp lại trước ngực, xá xuống tay này ấp lên tay kia xếp bàn tay xuống, lộn một vòng rồi mở xoè đưa lòng bàn tay ra trước.
Rồi giơ cả hai tay ra phía sau đầu mười ngón tay rẽ quạt, mặt ngửa ra nhìn lên trời trong khi hai chân nhón lên.  Hai tay đưa xuống chắp lại, quay chỉa vào ngực...
Thế thứ hai cũng vậy.  Nhưng qua đến thế thứ ba, thứ tư... cử động mạnh và nhanh hơn.
Hai bàn tay nắm lại thành quyền, giang thẳng hai cánh tay xoay trái rồi phải hoặc gấp tay cho hai quyền song song và kề sát nhau trước mặt, có vẻ mạnh bạo nhưng thực chất vẫn chậm rãi khoan thai.  Hai chân cũng lần lượt khi nhón lên, khi xoay trái, khi xoay bên phải; đầu và cổ, xương sống cũng bị làm việc.  Nhưng tất cả mọi thế đều chậm, nhẹ nhàng và liên tục... như chúng tôi tình cờ nhìn thấy trong vài chuyến đi chơi, nơi đám đông người lớn tuổi tập thái cực quyền buổi sáng ở công viên tại các thành phố bên Tàu.  Chỉ độ mười thế giản dị.  Tả rồi hữu, trước với sau, múa tay chân thế nhưng nếu không nhìn Thầy thì chúng tôi không cử động cùng chiều hướng.  Rõ ràng Thầy dạy quay bên trái rồi bên phải mà chúng tôi quay bên phải rồi bên trái.  Hễ thấy được mình sai thì khựng lại... giật mình dòm quanh dòm quất, dòm Thầy...  Thật ra vì ban đầu Thầy đứng trước, một số chúng tôi đứng sau lưng Thầy, số khác đối diện và cả hai bên Thầy, thành ra người đối diện phải làm ngược lại với thầy, còn người ở hai bên, nếu không nghe rõ và cứ xem "hàng ngang" bên cạnh, hoặc nhìn người trước mặt Thầy, chỉ một lát là lộn tùng phèo...

Mỗi lần chúng tôi bị lộn xộn như vậy tôi thấy Thầy mỉm cười.  Nụ cười rộng lượng và rất dễ thương.  Rồi Thầy đứng ra giữa, làm lại các động tác thật chậm để mọi người theo, trái trước phải sau vân vân và vân vân...

Tập cả giờ đồng hồ mà không đổ một giọt mồ hôi! Nhưng nghe người... thư thái từ tốn và sắp sửa hiền như... Thầy!!

Thử tập một mình thì không tài nào làm được liên tục các thế.  Có lẽ vì chúng tôi thiếu những khẩu quyết hay vài điểm " lô gích" để dễ dàng ghi nhớ.  Và hình như nhiều người cũng vậy.  Phần liên hoàn những thế sau, chúng tôi hay quên.  Bây giờ vẫn phải xem CD lại mới nhớ.

Và rồi qua đến chiều hôm sau, chúng tôi đang ngồi nghe Thầy Hằng Ðức giảng thì có tiếng xôn xao: Thầy tới, Thầy tới, Thầy Hằng Trường tới rồi!
Mọi người mừng rỡ, ồn ào, lăng xăng đứng lên, ào ra cửa, xếp hàng đón Thầy Hằng Trường, quên mất xin phép Thầy Hằng Đức.

Thầy Hằng Trường

Vào phòng họp, Thầy Hằng Trường tươi cười, không có vẻ mệt, mọi người cảm động và hình như không ai dám hỏi Thầy đi đường xa có mệt không.  Thầy cười nói chào mọi người và xin lỗi chuyện chậm trễ rồi lên phòng nghỉ độ hơn một tiếng là xuống nói chuyện.

Chúng tôi gặp lại Thầy, lần thứ hai, chưa đến một năm sau mà cứ tưởng như lâu lắm.  Ai nói Thầy có ba mươi hai tướng tốt, thấy có lí quá.  Khi xem lại các hình chụp ở pháp hội Thầy cao hơn tất cả chúng tôi một hai cái đầu.  Chúng tôi chắc Thầy còn có thần oai khác; sau đây là bằng chứng: tôi nhớ năm ngoái sau khoá học Cergy, ban tổ chức đưa phái đoàn Thầy đi ăn tối[6] vào centre commercial –thương xá lớn gần nơi học- sẵn tiện Thầy trò xem các gian hàng treo hoa đèn rực rỡ và các tượng hình tự động với nhạc cảnh như cảnh Ba Vua dâng lễ vật, máng lừa nơi Chúa Hài Ðồng ra đời vân vân vì chỉ  non một tháng là đến mùa Giáng Sinh, vì còn sớm chúng tôi theo Thầy vào tiệm France Loisirs, ai ở Pháp cũng biết loại tiệm này chuyên bán sách vở văn hoá phẩm cho người có thẻ ghi tên được mua với giá rẻ, không có thẻ không mua được nói chi đến giá rẻ.  Thấy Thầy mang sách đến quày trả tiền, tôi chưa dám chạy đến báo thầy điều kiện đã thấy Thầy ung dung móc tiền trả và lấy sách đi.  Hỏi thì Thầy nói Thầy không có thẻ.  Rõ ràng  người bán cứ lẳng lặng thu tiền Thầy rồi đưa sách và chẳng nói gì cả! (Còn tôi, vì muốn mua quyển sách đã chọn, bị lôi cổ ra bàn giấy điền vào tờ ghi tên xin thẻ, cam kết phải trung thành mua sách đều đặn mỗi tam cá nguyệt !)    

Mọi người  ngồi nghe Thầy giải thích lý do đến trễ: Thầy đi dự hội nghị Liên Tôn Hòa Bình tại San Francisco, thể theo lời đề nghị của Đức Đạt Lai Lạt Ma.  Thầy đại diện cho Phật giáo trong hội nghị quốc tế vì hòa bình này, bên cạnh những ayatollah, mollah và những người trí thức khác. Thầy có chiếu cho chúng tôi xem các hình chụp chung với một số các nhân vật trong Ðại hội này. 
Thầy bắt đầu cuộc nói chuyện thật tự nhiên, lưu loát, y như trong những cuộn băng chúng tôi đã xem đã nghe.
Mọi người quên thời gian, quên luôn là Thầy vừa đi xuyên lục địa sáu ngàn cây số!  Và trước đó Thầy đã làm việc chưa nghỉ ngơi.  Có lẽ tại thần sắc Thầy vẫn bình thường.  Và vì ai cũng sốt ruột đợi chờ muốn nghe giảng.
Tôi chỉ thoáng thấy lúc gần cuối bài giảng, bất chợt một ngắt quảng như một hơi thở hụt khiến Thầy ngưng nói khoảng  một phần trăm giây!  Lúc đó mới biết Thầy mệt chút xíu.
Nhưng như thế là Thầy đã quá ...khoẻ.  Kinh nghiệm bản thân cho biết mỗi lần chúng tôi đi qua Mỹ, lúc tới cũng như lúc trở về Pháp, lơ mơ nhức đầu, cứ lừ đừ như anh ghiền thiếu thuốc, mặt mũi hốc hác, ăn không vô mà ngủ cũng chẳng được, phải mất cả một hai ngày, đôi khi cả ba hôm sau, mới ăn ngủ cử động nói năng bình thường trở lại.

Trong suốt khoá học: mỗi sáng sớm Thầy dạy độ nửa giờ vài thế yoga, sau khi chúng tôi tập (warm up) với các anh chị trong ban tổ chức và các vị giảng viên phụ giáo.  Đôi lúc với ông Sơn Dân.
Một số người tham dự vì nghe bạn bè rủ rê, đã nghe nói đến hoăc có đọc qua tiểu sử hay thấy hình Thầy CE trên internet hoặc qua CD.  Có người chỉ thật sự biết Thầy qua lần giảng đầu tiên buổi tối hôm chúa nhật đó.

Chúng tôi đều bị bài giảng và vị thầy chinh phục[7].  Ngay từ buổi đầu.

Có vẻ như Thầy nhảy từ vấn đề này vấn đề khác một cách tình cờ, nhưng thật ra tất cả đều có liên quan với nhau và hội tụ ở điểm chính là mục đích của Pháp hội: Chú Ðại Bi.
Thầy thao thao bất tuyệt nhưng  không hề độc thoại, Thầy luôn đưa thí dụ hoặc những chuyện bên lề minh hoạ một cách rất sống động, những chuyện thật trong đời sống, trong khám phá khoa học hoặc triết lí với lời lẽ từ ngữ bình dân hoặc bác học nhưng giản dị dễ hiểu, gần gũi và dí dỏm.  Giọng kể chuyện và thầy kể chuyện, từ chuyện kinh nghiệm cá nhân của thầy đến chuyện thầy nghe thấy, lên xuống trầm bổng.  Rất lôi cuốn.  Thầy hay hỏi và (nhiều) trò trả lời nên "lớp học" sống động, vui vẻ, nhiều tiếng cười[8].

Một thí dụ, khi nói về vấn đề tổ chức, lo chuyện ăn uống, an ninh cho số đông, thầy nhắc đến kinh nghiệm của Burning Man, một kiểu đại hội nghệ thuật độc đáo tổ chức vào tuần lễ cuối tháng tám mỗi năm trong sa mạc Nevada[9], hàng chục ngàn người đến đấy vui chơi trong bầu không khí trao đổi, nghe nhau, biểu diễn, lấy cảm hứng vui thú sáng tác và sáng tác trong tình trạng cởi mở hứng khởi đặc biệt, cho các nghệ sĩ nhất là nghệ sĩ nghiệp dư (về nhạc, hoạ, nhất là về nhạc, với các kĩ thuật sáng tạo hiện đại).  Tất cả các công trình sẽ bị thiêu huỷ trong buổi lễ kết thúc đốt người gỗ hình nộm khổng lồ.  Thầy muốn lưu ý chúng tôi đến phương cách tổ chức hoàn hảo của họ bởi vì trong cái sa mạc ấy vì không người ở nên không có cơ sở cho dù nhỏ nhoi cần thiết cho sinh hoạt con người: không đường xá, điện nước, không hàng quán, chợ búa bệnh viện vân vân và vân vân...  Ban tổ chức phải lo tất cả: dựng trại, vạch đường, vận chuyển và dự trữ, cung cấp  mọi thức ăn uống, nhà vệ sinh, trạm y tế, cấp cứu, sân trại thể thao, trò chơi, đề phòng hoả hoạn, tai nạn.  Sau cuộc hội, sa mạc lại trống vắng, sạch trơn như thời hồng hoang !

Khi giải thích về mức độ tâm linh, về mối liên hệ giữa tâm lí với cảm xúc, lí trí, Thầy nhắc lại vị trí não trái, não phải, liên hệ trái tim và bộ óc. Mức độ cao của tâm linh là phát triển trí huệ để điều khiển sự nhạy cảm của con tim.  Tự cảm nhận mức độ tâm linh của mình và so sánh mức độ ấy ngày hôm nay với ngày hôm qua.

Thầy cũng nhắc đến tổ chức Google, là một thí dụ khác khi giảng về hai khuynh hướng thiên kết quả và thiên quá trình, đến văn hoá "puritanism" của Hoa Kì nhất là trong giới chính trị gia: những tì vết trong đời, tư cách đối xử với người xung quanh vân vân rất quan trọng dưới mắt người dân.  Hoặc khi nói đến sự quan trọng của phần sau cùng mỗi buổi tập Càn Khôn Thập Linh, khoảng thời gian bất động để vận chuyển khí, Thầy nhắc đến  Bồ Đề Đạt Ma.  Chuyện như sau: Hôm nọ, khi đi ngang qua nhà kia, con chim trong lồng than thở với ngài  và tỏ ý muốn thoát khỏi cuộc sống hót ca tù túng dù là cơm nước đầy đủ, được chủ yêu chiều.  Ngài dạy: mi hãy giả chết.
Ngài đi rồi, con chim vâng lời lăn quay ra nằm thẳng cẳng.  Ðến giờ ngắm chim và nghe chim hót như mọi khi, chủ nhân hốt hoảng thấy chim nằm bất động, im lìm và nước nôi lương thực hạt cải còn nguyên; chủ nhân lật đật mở lồng,  mang con chim ra ngoài săm soi xem xét.  Lạ chưa, nghe thân chim còn ấm  nhưng sao mắt chim nhắm nghiền cánh chân đờ đẫn thế kia.  Chủ chim sợ hãi lo tìm cách đổ nước đổ thuốc...  Thế là chim vội vàng tung cánh.  Xa bay.  Giả chết để được sống và sống được, sống khoẻ, để chữa bệnh, hoá giải điểm kẹt, điểm bệnh vì khí mất thăng bằng.  Một bài học xưa hơn ngàn rưỡi năm.

Thày tiết lộ "bí mật" của Thầy: giảng dạy liên tục không biết mệt, đó là nhờ những phút giây hoàn toàn bất động, không động đậy, không suy nghĩ, hoàn toàn chìm xuống, giả chết.  Bài học thư giãn kết hợp với CKTL.  Sẽ hiệu quả vô cùng  để chữa bệnh.  Phải tự chữa trị, trừ khử bệnh từ bên trong (“như đánh... du kích, như chiến thuật... nằm vùng.  Chắc ăn như bắp !” nguyên văn của Thầy).
Thật vậy, lúc đó với một cuối tuần đi hàng nghìn dặm, qua bao nhiêu là múi giờ, giảng bao nhiêu là bài mà thần sắc Thầy không thay đổi.  Lời nói vẫn ung dung, hơi thở êm nhẹ.  Và khi chúng tôi vào website Hoa Nghiêm Pháp Võng, nhìn thấy chương trình hoạt động của Thầy mà phát hoảng, không biết Thầy nghỉ ngơi được lúc nào, mà trong các bài giảng (audio và vidéo: pháp thoại, khai tâm, lớp Thiền, lớp CKTL vân vân) giọng nói Thầy vẫn trầm ấm, khoẻ mạnh...  Cho đến bây giờ, vẫn "kinh hoàng" khi nhìn lịch trình sinh hoạt hội CSS.  Lúc tập được CKTL kha khá hơn một chút, chúng tôi áp dụng bài học này vào đời sống.  Mỗi ngày trong khoảng thời gian làm việc, chúng tôi giả chết 2 hoặc 3 lần, mỗi lần 5,10 phút thôi, thấy bớt mệt rất nhiều.

Thế là sau buổi giảng đầu tiên, nhiều người trước đây ghi tên chỉ dự weekend thôi, nay quyết định thu xếp công chuyện sở, việc nhà, để ở lại học thêm. 


Càn Khôn Thập Linh và Mô hình tu toàn diện
Tu là gì?  Tu toàn diện ra sao?  Thế nào là bản đồ/mô hình tu toàn diện?  Xuất tục nhập thế là gì?
Mô hình "tu toàn diện" xuất tục nhập thế của Thầy làm cái nền cho toàn thể các bài giảng cũng như Càn khôn thập linh sẽ là cái khung cơ sở cho phần thực hành.  Mô hình con người trưởng thành trong đời sống xã hội, với các phần tâm lí, tâm linh với chính mình và mối liên hệ với thiên nhiên, xã hội, người thân.  Như bốn cánh hoa mở ra đều đặn bốn phía.  Chủ thể phía bên phải với thân xác mình với tâm lí, là mình trong môi trường, là quan hệ với thiên nhiên, là phần EQ. Phía trái là trí năng, thông minh phần IQ[10].  Hướng về bên trên là phần tâm linh, là yên lặng đối diện với chính mình với những tầng sâu tâm thức; bên dưới là  vị thế bản thân trong xã hội, với vốn liếng văn hoá, cung cách ứng xử, bổn phận, mối quan hệ với tập thể.  Một con người sống cân bằng cần phát triển trau giồi cả bốn phương diện, như đoá hoa với bốn cánh không ngừng mở rộng về bốn phía. 
Nếu chỉ lo mặt tâm linh, tu một mình chẳng hạn (xuất thế: bỏ lên non, vào chùa)  là bỏ quên ba mặt kia, ba mặt của quá trình Tạo nghiệp của tất cả chúng ta.  Cái nghiệp tạo nên này bằng lập công, lập đức, lập ngôn. (Thí dụ: Chúng tôi được hưởng công, đức của Thầy và các đệ tử Thầy dạy cho CKTL và  chú Đai Bi.  Thầy đem giáo lí để lại tiếng tốt cho đạo Phật) 
Một con người có thân thể khoẻ mạnh, tâm lí trưởng thành cởi mở chỉ mới là con người hài hoà, một con người phát triển thân thể, tâm lí, tâm linh và trí năng mới là người toàn diện và người hiền là kẻ thực hiện được hạnh Bồ Tát [11]
Càn Khôn Thập Linh

Mười ngón Càn khôn thập linh riêng chúng tôi đã tập qua trong khóa Taichi sơ cấp tại Cergy[12] năm trước, nhưng bây giờ mới hay rằng chúng tôi không những chưa thuộc bài mà còn thực tập sai be bét.  May thay, mọi người cùng học lại từ đầu cho nên chúng tôi dần dà sửa chữa đồng thời học thêm trọn 10 thế.

Thoạt đầu thầy nhắc và đề nghị mọi người làm một số cử động giúp mình nhận rõ thân thể. Awareness.
Thí dụ đưa bàn tay ra, thư giãn bỏ lơi mọi căng thẳng bắp thịt và tập trung tư tưởng vào đấy, sẽ nghe thấy nóng ran ở lòng bàn tay.  Ðiều này chúng tôi học được rất nhanh!  Thầy kể kinh nghiệm riêng với Sư phụ Hoà thượng Tuyên Hoá khi còn trẻ Thầy không tin điều này.
Môn Thái cực tổng hợp
Từ "chi" trong taichi khác với từ "khí " trong "khí công" (tiếng phổ thông đọc là "chi" nhưng phiên âm thành "Qi" trong pinyin chính thức).  Taichi là Thái Cực.  Tuy rằng một trong những mục đích môn taichi cũng là nâng cao "khí" trong người tập.  Môn taichi tại các nước Âu châu là môn "Thái Cực quyền" do Ðạo sĩ Trương Tam Phong, tổ sư phái Võ Ðang đặt ra vào thời Nguyên (thế kỷ 16). Thái Cực quyền được nhiều võ sư sắp xếp lại, nên số thế võ khác nhau tùy theo "style" (Yang, Chen, Sun, Wu...).  Các thế võ thường được múa chậm, theo hình vòng tròn, với mục đích làm chủ "âm dương", hai thành phần luôn đi đôi với nhau trong vòng tròn thái cực.  Người Âu tập môn này để thư giãn, giữ cơ thể khỏe mạnh, thăng bằng tinh thần hơn là tập môn võ tự vệ.
Môn Taichi của Thầy CE cũng xuất phát từ Trung Hoa nhưng theo phái Hoa Sơn, có nguồn gốc xa xưa hơn.  Tổ sư của phái này (Chen Tuan hay Chen Hsi I) sống vào thế kỷ thứ 10.  Tuy nhiên, CKTL không phải là bản sao của taichi Hoa Sơn, mà do Thầy rút ở các bài học từ các Thầy của mình cộng thêm  kinh nghiệm bản thân, phối hợp với phép thở của sư phụ Hoà Thượng Tuyên Hóa và môn yoga Tây Tạng[13].
Thầy tóm lại còn mười thế, dễ nhớ hơn những thế Thái cực quyền (37 thế cho dạng ngắn, 108 cho dạng dài).  Taichi tổng hợp của Thầy CE là môn tu tập chứ không là một môn võ nghệ.  Càn Khôn Thập Linh là tám linh vật giữa trời (và) đất.  Ðó là cóc, trâu, hạc, rồng, cọp, phượng, bướm, rùa.  Những linh vật mà vào thuở ban đầu như những súc vật bình thường, là chúng ta trước khi tu học để thay đổi, tìm một con đường đi.  Mỗi con vật này tượng trưng cho những đặc tính con người cần nhìn thấy hay sửa đổi để tìm lại Phật tính trong mỗi chúng ta.  Con cóc chẳng hạn, ngồi nơi đáy giếng, tưởng rằng thế giới chỉ là một vòm trời nhỏ trên đầu, với tay là tới; tưởng như đời sống chỉ là bản năng đói ăn khát uống...  Con trâu sung sướng nhởn nhơ trong bùn, muốn rời bỏ không dễ như chúng ta khó lòng dứt bỏ tham sân ham mê danh vọng...  Khi chúng rời bỏ được bản năng tập khí sẽ trở thành linh vật.  Các tầng trung tâm năng lượng (chakra luân xa[14]) sẽ được đồng thời khai mở.
Khi tập, mỗi con vật mang một khẩu quyết hàm chứa nhiều ý nghĩa và liên hoàn trong một chuỗi động tác với nội dung phong phú tượng trưng cho con đường tu học.[15]
Thầy kể chuyện trong buổi họp Liên Tôn vừa qua, Thầy nhìn thấy vài nhà bác học kiêm nhà nhân bản lớn nổi tiếng, đầu óc cực kì sáng suốt nhưng cơ thể bị bệnh hoạn tàn phá, kẻ ốm yếu người ngồi xe lăn.  Dù tuổi chưa già mấy.  Phải chi họ vẫn còn khoẻ khoắn thì với tài năng, đầu óc vượt hơn người ấy, họ có thể còn nhiều thời gian trước mặt để đem tài năng cống hiến cho nhân loại.
Có người cho rằng môn này quá ít thế tập so với Thái Cực quyền họ đã học.  Nhưng đối với chúng tôi, CKTL thật là hữu ích.  Tập đến nay hơn một năm rưỡi, cho dù là tập không đúng[16] qua hai mùa đông, lại phải làm việc trong rất nhiều stress và không khí ô nhiễm (chỗ làm cách xa nơi chúng tôi ở, nhà lại sát bên khu nhà máy lọc dầu, nhà máy đốt rác, nhà máy làm giấy, làm men bia vân vân) và đặc biệt thời gian gần đây nhiều bệnh dịch (ho cảm, tiêu chảy cuối năm 2006 và đầu năm 2007 đến bây giờ)  mà hai đứa tôi chưa tên nào bị (đồng nghiệp hay học trò, khách hàng) lây cả!  Thật khác với những năm trước, lúc nào cũng bất đắc dĩ tham gia vào ban đồng ho/ đồng cúm hay hợp cảm khi tuyết/ mưa lạnh kéo về.  Chắc chắn là nhờ tập mười thế khí công CKTL.
Qua mười thế tập này, tất cả các cơ quan trong người, các dây gân, dây chằng, các khớp xương, nhất là các đốt xương sống đều được xoay trở dọc ngang trái phải kéo lên trì xuống, kể cả các bắp thịt ở tay chân, lưng bụng, bàn tay khuỷu tay các khớp lóng xương tay.  Nhất là cột sống, các đốt xương được xoay quanh trục là cột tủy xương.  Dường như chỉ có hai vành tai là không nhúc nhích.  Nhưng nghĩ cho cùng, khi nghiêng đầu, ngoẹo cổ, ngẩng cổ lên, cúi xuống ngoẻo bên tả quay bên hữu, đầu cổ chuyển động lôi theo luôn hai vành tai!  Và các bắp thịt lần lượt khi co thắt khi thả lỏng (âm/duơng).  Và hơi thở lúc nào cũng được điều khiển, rất sâu và nhanh.
Càng tập (dù tập sai vào lúc mới đầu) chúng tôi càng nhận ra «(không ?) khí» (/ huyết ?) lưu chuyển trong một vài thế[17].
Có khi ngồi ở bàn làm việc chợt nghe trong vài giây một bên bàn tay ran lên rần rật vì  một luồng  (điện? khí?) đi qua, như có một dòng (huyết?) nóng bé xíu lan ra.  Có chắc đó là khí hay không? Có khi chúng tôi lạc quan?  Vì dư hương các truyện chưởng của Kim Dung đọc thuở thiếu thời?  Vì xưa nay chưa bao giờ tập thể thao thể dục, máu huyết ứ đọng, lười lưu thông? Nếu ở vào trường hợp sau, thật cũng tốt.
Chúng tôi chắc chắn phải còn xa cái đích chữa bệnh và thành người khoẻ nhưng xin mạn phép được nói tới, một thứ kinh nghiệm lạ lần đầu có được.  Ít nhất cũng mong chia sẻ kinh nghiệm và được các bạn biết nhiều hơn chỉ dẫn.
Thật vậy, từ sau khi theo khóa học ở Cergy, chúng tôi thường xuyên tập (gần như) mỗi ngày khoảng chín trong mười thế Càn Khôn Thập Linh, trừ một thế (con bướm) không tập được vì khó quá, và năm ngoái ở Cergy, vì Thầy thấy hầu hết chúng tôi lảo đảo cánh bướm nên cho phép ngưng, thành ra anh Hiển và chị Sheila  không có dịp dạy thế áp chót này.
Nhưng từ bây giờ trở về sau chúng tôi rất chăm chỉ học.  May mắn một phần trong pháp hội lần này vì nhiều người khác cũng là débutants (tập sự), các anh chị instructors phải dạy chậm rãi và thật rõ ràng, nên chúng tôi học càng nhanh.  Sau mỗi bài giảng, hoặc trước khi ăn, chúng tôi tập Càn Khôn Thập Linh với họ và học thêm các thế yoga với Thầy, chúng tôi hiểu thêm vài điều quan trọng.
Đó là kết hợp thư giãn và vận động, là hơi thở và vận chuyển khí bằng ý tưởng.  Phần cơ thể dễ thư giãn và phải thư giãn hầu như liên tuc là tay chân, nhất là bàn tay và bàn chân, các bắp thịt ở lưng, bụng.  Khi chúng tôi thư giãn bàn tay, khi hít vào, tưởng tượng đưa khí từ tay xuống thân qua đan điền xuống tới gan bàn chân nơi có huyệt Dũng Tuyền.  Mỗi lần hít vào mạnh và sâu là nghe (không ?) khí (huyết ?)  lưu chuyển theo hướng của ý.  Ở mấy thế đầu, con cóc, con trâu, khí lên từ từ, hai bàn tay bắt đầu ran lên như có luồng điện nóng chạy qua, càng làm nhiều lần, càng thả lỏng tay, càng nghe rõ.  Thường thường đến hơn 10 lần mới "nghe " được khí/huyết chạy/chảy. 
Như ở thế con phụng,  phải  nâng vuốt quả cầu tưởng tượng trong vòng tay vừa đọc thầm khẩu quyết phi tâm phi tâm, đôi tay và những ngón tay thả lỏng, chân dang xa, một bên cong và  khuỵu xuống cho chân đùi thẳng góc rồi xoay thân trên, thả lỏng bàn tay một trên cao bên phải hơi cong vào một dưới thấp và xoè ngược bàn tay.  Rồi thở hít  vừa cho khí vào (từ những ngón của bàn tay bên này giơ lên) chạy vút qua tim và tràn xuống bàn tay xoè bên kia, vừa đọc khẩu quyết thượng cầu hạ hoá vừa nghĩ đến chakra số 4 ở vùng tim, vừa giữ đầu lưỡi trên nóc giọng... Cộng lại bao nhiêu thứ "vừa " phải làm, thật là khó.
Mỗi thế khó một cách, càng học càng thấy ...khó.
Thường thường nghe được khí chạy rất ít, mồ hôi cũng ra ít trừ những hôm tăng lên 15 hay 20 cái mỗi thế.  (Nhưng không thể vì sốt ruột mà đốt giai đoạn được dễ dàng vì chúng ta có thể rơi trở lại tầng năng lượng cũ thấp hơn -thấp nhất ?- như những hạt... âm tử luôn có khuynh hướng trở về trạng thái cơ bản /bản năng?)...
Tuy nhiên, đôi lúc hiếm hoi, ở thế con phượng, sau khi hít vào xong ba cái, vòng 2 tay mở mấy ngón làm cửa sổ, ngửa cổ ra sau, thả đầu nặng lên cổ mà không căng băp thịt ở mặt và ở cổ thì lập tức nghe khí nóng tuôn ràn rụa xuống tay xuống mặt, đến tận thắt lưng, đôi lúc xuống cả đùi!  Và mồ hôi vã ra!
Chúng tôi làm khoảng mười lần cho mỗi thế trong khoảng thời gian ngắn ngủi 45 phút (Thầy dặn phải tập 2 giờ mỗi ngày!) trước khi đi làm mỗi buổi sáng.  Theo lời Thầy, khi làm đúng các động tác và thở cũng như thư giãn các cơ bắp thì tập nhiều mà vẫn không mệt. 
Ở thế khôn, đôi khi chúng tôi nghe râm ran ở đỉnh đầu khi tưởng tượng hít khí vào rồi đưa xuống bụng và vòng ra lưng đi lên cho thành vòng tròn.
Và khi giả chết là những giây phút nghe khoẻ nhất!  Tiếc một điều là sau pháp hội, trở lại với cuộc đời đi làm việc, những phút giây này bị chúng tôi cắt xén hơi nhiều, lắm khi chỉ còn là vài giây chứ không vài phút, phải chạy đi tắm, ăn sáng và ra khỏi nhà!  Lắm hôm vừa lái xe vừa ăn sáng, vừa trang điểm.  Và bữa nào cũng tự hứa hôm sau sẽ dậy sớm hơn để làm tròn bổn phận.  Chỉ một giờ rưỡi thôi mà sao khó khăn quá.  (Khó khăn sửa đổi tập khí?)  Cho nên thường chỉ đến cuối tuần, (nhất là cuối tuần không bị trực, không phải đi xa tiếp tế lương thực nhà-làm cho lũ con) trong hai ngày thứ bảy và chúa nhật  không bị đồng hồ rượt chạy, chúng tôi thong thả, tập trung được cho «nhất tâm bất loạn» thong thả và đầy đủ mười con, mỗi con từ 10 đến 15 lần thì khí huyết lưu thông, thân thể hết mệt và đầu óc sảng khoái.  Lại dư thì giờ để ngồi thiền một tí sau khi giả chết.  Nhưng cái ngồi thiền quá ngắn ngủi trong tuần này thì hiện nay chưa nghiêm chỉnh và đúng điệu.  (Tóm lại, theo lời Thầy giảng với mô hình đưa ra, đường tu tập cho hai đứa chúng tôi còn thăm thẳm, thật dài.  Chỉ nội chuyện sửa đổi hay bỏ bớt được những tập khí đã bám cứng từ vạn kiếp trước mà còn trần ai như thế.  Nói chi đến chuyện phụng sự tha nhân, xã hội!  Làm sao tổ chức được đời sống và tâm trạng cho mỗi ngày đều là ngày chúa nhật?  Nếu hỏi Thầy chắc Thầy sẽ mỉm cười trả lời: tập CKTL!
Bởi vì Khí Lực phát khởi nhờ CKTL phải được tồn trữ rồi vận dụng và tổng hợp để mở những luân xa thấp nhất nằm trong Dục giới: thấu hiểu/vượt lên những đòi hỏi bản năng, tính tham, lòng vị kỉ.  Phát triển trí óc, tâm linh là làm cho đầu óc sáng suốt; ngồi thiền trong vắng/tĩnh  lặng để tâm linh được cân bằng: nghe mình.  Nghe được mình rồi mới mong dễ dàng nghe được người; mở mang trí huệ mới nhìn thấy người khác, khiến mối tương quan với xã hội càng tốt đẹp và để tiến tới Vô Sắc giới: mở rộng lòng từ bi.
Ở đây xin nhắc lời thầy: CKTL cũng như Chú Đại Bi: chỉ là những pháp môn cơ bản, những cánh cửa giúp chúng ta đi tới việc thực hiện được một mục tiêu: sống an lạc cho mình cho người.  Và giúp người là trình độ của người hiền bậc Bồ tát.
Vì tập luyện CKTL sẽ đến 4 tầng khác nhau : mỗi tầng có các mức a, b, c và d.
Tầng 1: của người khoẻ( healthy), vì tập cho có sức khoẻ, gồm các mức a, b, c (15, 25, 35-40 lần mỗi con linh vật).  Mỗi mức độ thêm hoàn chỉnh về một phương diện.
Tầng 2: là tầng khai mở tạo nên người hài hoà (integrated), thân tâm trưởng thành, cởi mở; cũng gồm các mức a, b và c.
Tầng 3: thuộc về người toàn diện (achievable :  thân, tâm lí, trí năng, tâm linh đều phát triển
Tầng 4:  tầng hiền nhân (holistic) (sage) thực hiện hạnh Bồ Tát (đến Thập tín, rồi thập Trụ[18])

Trong khoá học này phần CKTL và chú Đại Bi là huấn luyện thân thể và tâm linh.  Là bước đầu.  Để đi vào tầng thứ nhất.
Có chữa được bệnh, có một thân thể khoẻ mạnh, tâm thức mới dễ mở rộng: lòng từ bi lớn lên, đón nhận con người khác, sửa đổi chính mình.  Khi bệnh, chúng ta ai cũng thường tỏ ra khó chịu,... khó thương (với) người khác.

CKTL để khai mở các luân xa, nhìn lại bản lai diện mục.
Khai mở hạt mầm đại bi sẵn nằm trong tiềm thức: đó là chức năng và nhiệm vụ của "Chú đại bi".

Như vậy, thân thể khoẻ mạnh sẽ là tiền đề, sẽ là mức khởi hành..., sẽ là một cánh cửa... cánh cửa đầu tiên, sẽ còn vô số cửa nữa trên con đường tu học.  Thầy dặn học theo Thầy nhưng không... theo Thầy, cứ tìm được Thầy nào học được pháp môn nào cũng tốt, như các phương tiện giúp vượt những cánh cửa!

"Đêm rồi cũng đi qua ! "
Mỗi tối, nhất là tối chú nhật, tối đầu tiên sau bài giảng, Thầy đã dặn đi ngủ sớm nhưng xong thời gian xếp hàng đi rửa mặt đánh răng... bày mền bày gối, thì đã gần 12 giờ khuya.  Thế mà hãy còn vài người thấp giọng khúc khích, hỏi han, thì thầm.
Giảng đường bây giờ là phòng ngủ thật dài với những chiếc nệm xếp cạnh nhau thành hai hàng ...giường.  Một giờ trước đó các anh Minh, anh Hùng... bơm hơi tất cả các chiếc nệm rồi phân phối ra cho mọi ngưòi.  Lối đi giữa hai hàng nệm chưa rộng đến một mét.  Chúng tôi nằm chân quay vào tường, đầu về lối đi, nam tả nữ hữu hay nam hữu nữ tả tuỳ theo hướng nhìn ở đầu này hay đầu kia của giảng đường.  Hôm trước, vì không xem kĩ giấy giới thiệu pháp hội, chúng tôi đinh ninh được ngủ theo kiểu nhà ngủ nội trú học trò, hấp tấp ra đi chỉ mang theo khăn trải giường và áo gối.  May mà được bạn cho mượn mấy cái túi ngủ.
Cái trần nhà cao và phòng ngủ mới quá mênh mông cho tôi, dù không có khe hở giữa hai cái nệm.  Và chúng tôi gần trăm mạng nằm cạnh nhau.  Thỉnh thoảng tiếng chân những người qua lại cuối cùng (đi làm vệ sinh cá nhân) nghe gần đến nổi tưởng như ai lỡ vấp chân là rơi ngay vào đầu mình.
Đêm đầu tiên thật khó chợp mắt,  mới chớm xuân nên trời tuy ấm áp ban ngày mà chiều xuống lại đem về mùa đông tiếc nuối, khiến tiếng ho hen của một vài người bị cảm lạnh từ trước dường như tăng vận tốc và cường độ...  Trời khuya lắm, tất cả chỉ bắt đầu tĩnh lặng sau vài tiếng suỵt suỵt rầy rà của anh Minh khi anh đi tuần lần chót.
Giấc ngủ mãi vẫn chưa đến với tôi sau một ngày mệt nhọc.  Nơi chốn lạ và những bài học quen, cũ và mới quay cuồng.  Như trong một giấc mơ lạ lùng.  Như bắt đầu một điều gì đó.  Như một cái gì tiếp nối cho cuộc tìm kiếm mơ hồ cách đây gần hai mươi năm của hai chúng tôi.
Mà xung quanh và nhất là ở bên phía nam nhi, chỉ năm mười phút sau khi đèn tắt, đã "vang lừng" những tiếng ngáy to tròn, mạnh mẽ. 
Không khí tĩnh lặng bắt đầu... hết tĩnh lặng.  Tiếng côn trùng ếch nhái ngoài kia bị đè bẹp đến tắt tiếng luôn, nhường chỗ cho tiếng người ngáy, nhịp nhàng, đều đặn, đều đặn trước sau, lần lượt, tiếp nối, như một bản nhạc hiền lành.  Vài người mất ngủ bật cười trước ban nhạc thành hình bất ngờ này.  Trầm bổng nhịp nhàng và hài hoà.
Đêm xuống đậm đặc.  Vẫn lạ lẫm.  Vẫn cảm tưởng rộn ràng mà nhẹ nhàng âu lo.
Hồi chiều nhìn các anh chị bên Mỹ loay hoay với những túi xách khổng lồ, lỉnh kỉnh những máy móc, tài liệu mà cảm khái.  Chúng tôi nhìn nhau, tội nghiệp cho họ -con nhà giàu (?!) không quen với chật chội, ồn ào, thiếu kỉ luật.  Nhưng quả là lo bò trắng răng...  Chỉ độ mươi phút sau khi đèn tắt, chúng tôi nghe anh Hiển chị Sương bên kia bắt đầu mở màn cho cuộc hoà tấu[19].  Và thêm một vài chốc nữa là cả một ca đoàn lần lượt trỗi lên, càng lúc bè càng đông và cường độ càng lớn.  Những người bè sau len vào trơn tuột và khít khao.  Như có một ông nhạc trưởng vô hình, chỉ nhấc khẽ mũi chiếc đũa thần vài millimét, chỉ một chút nhướng mắt, một tị hất cằm...  chính xác và đúng lúc, những cự li nhà nghề! 
Cuộc hoà tấu êm ái hiền hoà và dễ thương làm sao với đủ các giọng kim giọng thổ, alto, soprano, bè trước, bè sau, bè giữa...  như đã dợt với nhau tự bao giờ.
Hay thật! Cho nên bên này bèn tức cảnh làm... vè:
Nệm hơi người một chiếc
Bơm căng sao vẫn mềm
Nằm kề nhau thân thiết
Vừa lạ đã thành quen
Trở trăn chưa nên giấc
Ngọt giọng kèm tiếng ho
Rập rềnh đêm đếm nhịp
Nghe ai ngáy mà ...thèm
Không rành thiền buông xả
Lùng giấc sâu mệt nhoài
....
Và chợt hiểu ý nghĩa những tiếng ngáy nhuần nhuyễn nhịp nhàng tăng crescendo theo đêm.  Coi vậy mà chưa chắc là vậy.  Không biết ai tội nghiệp cho ai !
Bên trái ông A trầm ngâm quăng ra câu hỏi (ngáy): kh...ó...khó... kh...ông? Khó kh...ô...khô...ông? Kh...Kh...
Và khi ông hỏi khó khó không khó khó không, ở đầu kia ông B đồng tình đáp ngay : 
- Kh...o...o...ó ... a!  kho...khó...kh...o..o..ó ...à !
Hai ông thành một bè hỏi đáp 
- Kh...ó...khó kh..ông? Khó kh...ô...khô...ông? Kh...o...o...ó ... a! kho...khó...kh...o..o..ó !
Bên cạnh là bè số 2 với
- Chị C biểu đồng tình trên ba nốt: hhh h..ư...ù hhừ...ừ ...ừ kho...kho...khó!  H..h...hừ khó khó ...khò khò
- Anh D cãi bướng: Kh...khô...kh...ô...không....khờ...khờ...kh...ông!  không ...kh... kh...ông khó
- Ông cụ E, nằm ngay bên cửa sổ, buổi chiều không xoay được người quanh cột sống theo con số 8 tưởng tượng thì thở ra sườn sượt: kh...khổ kh...ổổ ...rrrr....rrồ...rrôồi...
Và những người (bè 4,5,6...) khác lao nhao phụ họa: kh...kh...o...khó, khô... khổ... kh...kh...kh...khờ khờ khờ ơ hờ hờ ...
Kẻ giọng cao, người giọng thấp, hơi dài, hơi ngắn, alto, soprano, ténor... đủ cả.  Điều hay nhất là sự kết hợp hài hoà, chẳng ai lấn áp ai, trước sau, đều đặn, tuần tự, cách nhau vài móc đơn, móc kép, trên dưới nửa " tông " tới hai, ba " tông ", nghe thật hay.
Vào đêm prélude thì vibrato,... đến giờ tí thì  crescendo đến forte, rồi fortissimo... khi đông đầy thì ralentissimo chuyển về mineur, ra diminuendo...  Chỉ thiếu giàn trống, nhưng như thế đã là quá đẹp...
Một giàn nhạc giao hưởng độc đáo toàn kh...kh...khó với kh...kh...khổ.  Nhưng kêu khổ than khó với một giọng rất thoải mái, khoẻ khoắn, hùng hậu.
Thật vậy chúng tôi tập đến khờ khạo cả người mà ngày hôm sau và cả mấy tháng sau đó chúng tôi vẫn làm chưa đúng hẳn như đã học.  Hứa hẹn rồi ra ai cũng  sẽ... k...h...ô ...k...kh....ốc cả người.  Đường học gian nan, năm ngoái, chúng tôi hãy còn dưới số kh...ô...ng...  Bây giờ là số...khổ/khó !
Còn  phải qua 1a, 1 b, 1c rồi  2a, 2b...  Thảo nào Thầy nói học có khi đến ngàn vạn, tỉ kiếp...
Và cái khổ nhãn tiền bây giờ là... không ngủ được.
Nhưng rồi đêm cũng đi qua !!
Ngồi dậy với mắt cay mi nặng, mới hay đêm tưởng dài mà thật ra quá ngắn!
Xì hơi nệm, xếp mền gối, làm vệ sinh, thay quần áo, ra tập cho ấm thân thể trong khi chờ đợi bài tập đầu tiên trong ngày do thầy hướng dẫn: vài thế yoga (chào mặt trời) và bài tập CKTL.  Sau đó là bài giảng Chú Đại Bi.
Những đêm sau, những tiếng thì thầm ngưng sớm hơn (phần vì bị Thầy quở: chắc ai bị mất ngủ như tôi :-) nên méc Thầy) phần khác có lẽ vì tập nhiều, nghe giảng nhiều và có lẽ nhờ biết áp dụng "bài học giả chết", chúng tôi dỗ giấc ngủ dễ dàng hơn và nhờ vậy đỡ mệt  trong những ngày sau.  Và chắc chắn trong bè số 1 và 4 hay số 5 là có hai đứa tôi lần lượt gia nhập mà không cần xin phép.  Cái ngủ vừa tạm khắc phục thì đến một cái khó khác, tưởng chừng như mission impossible.
Ðó là việc  hiểu và thuộc được chú Đại Bi.  Cái impossible kế tiếp là tụng cho được... 108 biến mỗi ngày.  Mỗi biến gồm 84 câu, mỗi câu là vài chữ Phạn, chữ Tàu.  Bài học thuộc lòng (từng chữ) cuối cùng của chúng tôi hình như là ở năm đệ ngũ!  Và chữ Việt một trăm phần trăm! 
Cũng may, Thầy cho thời hạn ba năm.  Nhưng Tuyết, cô bé trợ giáo anh chi Hiển Sương khi nghe tôi than “trời đất, làm sao mà thuộc nổi khi ngay cả cách đọc còn chưa biết!” Tuyết  bèn nói một câu xanh dờn khiến tôi quê quá:  Không có đâu, chị sẽ thuộc mau lắm, ngu như em mà học chỉ một tuần là thuộc [20]!

Tu toàn diện và Chú Đại Bi
Xin nhắc lại: xem các bài giảng đầy đủ của Thầy về Mô hình tu toàn diện của người Phật tử trong thế kỉ 21.
Bản đồ tu toàn diện Thầy vẽ ra cho chúng tôi tóm lại bằng bốn chữ: Xuất tục & Nhập thế
Xuất  tục: ra khỏi bụi đời thế gian cũng là ra khỏi tham sân giận hờn ghen ghét, buông bỏ ích kỉ.
Nhập thế để cống hiến đời mình cũng là để giúp đời người khác, đem an lạc về cho mình cũng như cho người khác.
Ðó là cách tu toàn diện cho người xuất gia cũng như người tu tại gia.
Tu để phát triển tiềm năng cho cuộc sống mình được phong phú trưởng thành.  Tự tu và tu với người, hai đường này cần phải được cân bằng.  Cũng như đồng thời tu phước và tu huệ.
Đường tu như những vòng tròn không đồng tâm như những vòng tròn của con trốt: ở dưới cùng và nhỏ nhất là những vòng giải oan, giải nghiệp.
Tu là làm bớt đi những oan, oán, nghiệp và:
* Để không ngừng trưởng thành về mặt tâm lí và tâm linh để khai mở chủng tử đại bi trong mỗi chúng ta
* Và  liên tục phát triển toàn diện tâm linh trong một thân thể tráng kiện để có thể trưởng thành về mọi phương diện trong đời sống, đồng thời giúp đỡ kẻ khác cùng tiến: nhờ tâm linh phát triển sẽ tác động trên lí trí (thông) sẽ sáng suốt có khả năng bao dung
* Dùng trí huệ vượt qua những vòng phiền não vốn lan truyền như những vòng sóng vô cùng ngày này qua ngày nọ, kiếp này qua kiếp nọ
* Đại bi tâm là chuyển hoá quỷ ma thay vì đánh chúng tan thành trăm mảnh.
* Tổng trì Chú Đại Bi tâm  là  tập cho được lối sống toàn diện, mở rộng cuộc sống, đem niềm vui cho mình và cho người (tâm lí).  Tập cho có tâm từ bi.  Tâm từ bi để có thể áp dụng 5 T vào đời sống tâm lí: thương, tha thứ, thôi, tuỳ, thoáng[21].
Vì sao gọi là kinh quảng đại viên mãn Quán Thế âm Bồ Tát?
Vì tâm từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát bao la tròn đầy: ngài ước nguyện có thiên thủ thiên nhãn, nghìn mắt để nhìn thấy tất cả, thấu suốt tất cả và nghìn bàn tay đưa ra cứu khổ, cứu nạn, ban phát điều lành, thoả mãn nguyện ước chúng sinh.
* Trì chú để qua vượt qua các cánh cửa của Dục giới, Sắc giới, đi về cõi Vô sắc giới, chú Đại bi  là một cách vượt qua một cánh cửa, phải hoạch định thời gian cho sự vượt qua ấy. 
* Chú Đại Bi là đàn tràng của trái tim
* Phải có Truyền thừa mới trì chú Đại Bi: Chú Đại Bi đã được Thầy Tuyên Hoá, tổ thứ 46 dòng Quy Ngưỡng chứng: thế là một số chúng tôi được quy y với Thầy và được Thầy truyền thừa vào dịp này: Thầy dặn trong 3 năm phải hoàn tất "chỉ tiêu": nhất tâm trì chú mỗi ngày 108 lần (biến), ăn chay trường, giữ 5 giới.  Giải trừ hiện nghiệp, tiêu sạch mọi tham sân si oán hận, buồn phiền hờn giận.  Cả một chương trình !
Buổi lễ quy y và truyền thừa cho chúng tôi (khoảng hai mươi người) giản dị nhưng trang nghiêm và cảm động.  Thầy đặt pháp danh (Thầy hội ý với Thầy Hằng Ðức) và giảng giải ý nghĩa từng pháp danh cho từng người.  Thầy cho chúng tôi đọc bài kệ
                                           Chúng con nguyện quy y Phật,
                                                                         quy y Pháp,
                                                                         quy y Tăng...
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật Ðạo vô thượng thệ nguyện thành

Cùng phát nguyện trì chú Đại bi để «chuyển hoá», để «diệt trừ trọng tội chất chồng trong vạn ức kiếp sinh tử», để «không bị vương vào 5 ác tử: chết vì đói khát khốn khổ, gông cùm đánh đập, thuốc /trùng độc, điên cuồng mê loạn vân vân» để được sinh vào 15 chỗ tốt (từ vua tốt, nước tốt, thời đại tốt.... thân thể tứ chi đầy đủ, đạo tâm chín mùi, gia đình bà con ân nghĩa hoà thuận... cho đến thường gặp Phật, nghe pháp, khi nghe chính pháp, liền ngộ nghĩa sâu»
Tối đó  hai  chúng tôi nhìn nhau, lắc đầu le lưỡi:... to(a) gan quá ta!  Giang san dị cải, bản tính nan di! Thầy nói như vậy.
Một cuộc dấn thân, một cuộc mạo hiểm hoàn toàn mới lạ tuy khác hẳn cuộc mạo hiểm vô ngôn (mà thành văn!) chúng tôi đã nắm tay nhau cùng bắt đầu gần 40 năm về trước, vì lần này hữu ngôn: sẽ cứu bồ nhau, đi cùng nhau cho đến kiếp sau và sau nữa... nếu được.  Hứa hẹn cả một chương trình!
Làm sao cho sạch được hiện nghiệp?
Thầy cho biết sau pháp hội này, Thầy sẽ thực hiện biểu đồ mới để giúp tất cả tiêu trừ hiện nghiệp trong một thời gian ngắn hơn (so với mô hình thầy dạy 10 năm về trước: giải trừ phiền não, tập khí)
Chú Đại Bi                  
* Thầy Hằng Trường đọc từng đoạn kinh ngắn và tỉ mỉ giảng nghĩa, cho thí dụ,  trước khi dạy chúng tôi cách đọc và học chú.
Tên đầy đủ của bộ kinh Đại Bi là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quảng-Đại Viên-Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh.
Chữ đà-la-ni (Dharani) dịch nghĩa là tổng trì, cũng gọi là chú, hoặc gọi là chân ngôn.  Mật ngôn.
Nguyên thủy kinh tiếng Phạn, được thiền sư Ấn Độ Dà-Phạm-Đạt-Ma dịch sang tiếng Tàu vào đời Đường.  Kinh này là lời Ðức Phật Thích Ca nói trước một pháp hội đông đủ chư vị Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, Đại Thánh Tăng, Thiên Long, Dạ Xoa... Ðại Bàng, Mãng Xà Vương, Thần Sông, thần Núi vân vân tại Ấn Độ, trên đảo Potalaka.  Nơi cung điện Bảo Trang nghiêm của đức Phật Quán Thế Âm.  
Theo kinh, thần chú Đại Bi do Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai đặt ra, trích từ bộ kinh nói trên.  Chú gồm 84 câu, đó là Mật ngôn như đã viết ở trên và cũng là Tâm chú, Thần chú.
Phật Thiên Vương Tịnh Trụ Như Lai đặt ra Thần Chú này cho Đức Bồ Tát Quán Thế Âm trì để "chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu"
* Thầy bảo chúng tôi cùng đọc 10 đại nguyện của Đức Quán Thế Âm[22]
và giải thích ý nghĩa của chữ MẬT trong: đức khiêm cung của Quán Thế Âm, kín đáo làm việc thiện.
Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát từ trong đại hội mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát-độ cùng cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới này, khiến tất cả đều biến thành sắc vàng
Thầy giảng: nhờ trí huệ và ảnh hưởng Quán Thế Âm chuyển vọng tưởng thành chánh trí, chuyển phàm tâm thành Phật tâm.  Tập khí, Thành kiến như long vương đại bàng, mãng xà như giang hà đại hải núi vì chấn động ( bởi hào quang) sẽ chuyển hoá.
«Bồ Tát Tổng Trì Vương bèn từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ hỏi Phật:
-          Hôm nay ai thành chánh giác ?
-          Là Quán Thế Âm đã tu từ vô lượng kiếp... »
Quan Thế Âm Bồ Tát khi nghe chú này thì chứng quả  từ bậc Sơ địa qua vị Bồ Tát bậc Bát địa[23]. Và phát nguyện được có ngàn tay ngàn mắt để cứu độ chúng sinh.
Thầy nói lời chú khó hiểu vì Chú Ðại Bi là những câu mật ngữ[24].  Ðọc chú với lòng thành để khỏi đi vào những con đường ác, để khỏi bị hiểm nghèo khổ nạn, để được vui sướng an lạc, không cần hiểu vì  « bất khả tư nghì», ý nghĩa chú Đại Bi nằm bên kia của ranh giới ý thức, đọc kinh, trì chú là sống toàn diện, là mở rộng cuộc sống, đi vào đường trung đạo là thực hành con đường tu đạo.  Và trì chú là dùng trí huệ để đi qua cái cửa pháp môn.  Có vô số cửa phải qua như trong truyện Narnia: mỗi cửa khám phá mở ra một thế giới.  Cứ thế lần lượt một cửa mới mở ra một thế giới; một cuộc tìm kiếm (học/tu) không ngừng nghỉ.         
Thầy giảng :
·         Tướng mạo đà la ni của Chú: gồm các đặc tính  1/Tâm đại từ đại bi 2/ Tâm vô đẳng 3/Tâm vô vi 4/ Tâm vô nhiễm trước 5/ Tâm quán không 6/Tâm cung kính7/Tâm khiêm nhường 8/Tâm không tạp loạn 9/ Tâm vô chấp trước 10/ Tâm vô thượng Bồ Đề
·         Ðiều kiện để trì tụng: Phát tâm bồ đề/ Nguyện độ muôn loài/ Giữ gìn trai giới/ Khởi lòng bình đẵng với chúng sanh/ Liên tục trì tụng.  Ngoài ra còn các điều kiện khác: thân thể, nơi chốn, y phục sạch sẽ, nhang đèn, hương hoa cúng dường/ Chế tâm nhất xứ
·         Ảnh hưởng tức thì: Nhật Quang Nguyệt Quang –các vị theo trợ lực QTA- Trí huệ sẽ thông suốt
·         Ảnh hưởng dài lâu: Trị lành vạn bệnh, sai khiến quỷ thần, không bi pha rối khi tu hành; phước huệ song  tu
Sau ba năm trì chú tâm từ bi sẽ phát sinh, lòng vị kỉ sẽ nhường chỗ cho vị tha.  Thầy hẹn ba năm sẽ... kiểm bài chúng tôi.
« Bất khả tư nghì » ! 
* Chính vì cứ... tư nghì, cứ cố tìm hiểu, tìm một lí giải thích đáng « logic » nên bài viết của hai đứa chúng tôi bị tắc tị khi bắt đầu phần nói về Chú Đại Bi.  Nghĩa là chỉ một hai tháng sau pháp hội.  Dù thật sự tin lời Thầy.  Nhưng có lẽ vì lúc bấy giờ chúng tôi chưa siêng năng trì chú theo lời Thầy dặn.  Hay không thật sự tin vào sức mạnh siêu... ý thức của chú?  Chỉ biết rằng khi chúng tôi thuộc làu thì bài viết này hoàn tất[25]
Và may quá, chúng tôi mới kịp hiểu gần đây thôi, rằng: bất khả tư nghì thật sự là... bất khả tư nghì!  Tự nhiên lại... thấm thía lời Thầy.
Làm sao luận bàn về thế giới mình chưa thấy được?  Mình chưa thấy nhưng không vì thế mà nó không hiện hữu   Cái siêu ý thức thì làm sao dùng lời lẽ ý thức diễn tả?  nhưng cần gì hiểu khi chỉ cần biết điều chính là khai mở cho được tâm từ bi, từ bỏ ích kỉ, tham sân si?
Thế giới có triệu điều không hiểu, nhà văn Mai Thảo có những câu thơ tuyệt vời vào cuối đời . Câu thơ này của ông cứ vương vấn mãi trong tôi.  Câu tiếp theo và những bài thơ tương tự của ông đại ý đều như thế, đại khái ông hiểu ra vào lúc cuối đời.  Tôi rất muốn biết điều ông hiểu.  Vì tôi ngờ rằng cho tôi, đến cuối đời mình, nếu cứ tiếp tục cuộc sống như trước, chắc chắn vẫn sẽ không thể hiểu được... cuộc đời này trong muôn một nếu không theo học... một pháp môn nào đó, để mở ra một cánh cửa trong ức vạn cánh cửa.  Một kiếp sống: cực kì ngắn ngủi!  Cửa nào đã mở?  Mới có một hai cửa bé tí mở ra mà cứ tưởng đã hoàn tất chuyện... mở cửa!
* Thiền định, trì chú để mở luân xa (số 1,2, 3: Sắc; số 4: Thọ; Tưởng số  5 và Thức ở luân xa số 7) mở rộng ra xã hội Sắc giới, lí trí thấu/thông suốt chân lí để tác động trở lại xã hội để đưa đến giải đáp tốt đẹp cho nhiều người nhất.
Thầy cho biết trì chú được 3 năm tâm thức từ vị ngã sẽ thoát lên tầng vị tha.  Tình thương sẽ phát sinh, không còn ai nằm ở ngoài tâm ta (người tu hành hay nói: mình mà ghét ai là ta cứ cõng họ... vô tâm)
Tất cả tiềm năng sẽ dâng trào (mở khai tâm thức)...
* Chú Đại Bi phải đi với tâm đại bi và lòng thành.
Thầy kể chuyện ở Đài Loan có em bé sinh thiếu tháng Thái Phú Toàn bị thập tử nhất sinh (van tim bị hở; chữa xong đến lượt phổi chỉ hoạt động có một bên) Thầy bảo những người đang học CKTL trì chú cho em lúc mẹ em sinh khó.  Rồi khi em ra đời được sáu tháng rưỡi phải mổ phổi, hai bên nội ngoại dằng co, bên muốn giết bên muốn cho sống?  Khi Thầy vào thăm, bé mở mắt nhìn Thầy. Bây giờ hai gia đình giảng hoà.  Thầy dặn tất cả chúng tôi tiếp tục  trì chú và hồi hướng cho bé  được sống bình an khoẻ mạnh.
Gió nghiệp
Than khổ than khó nhưng thật ra lớp học chúng tôi luôn luôn đầy tiếng cười và những giờ phút thoải mái. Giờ “ra chơi” ở ngoài sân vườn, những lúc làm quen với các bác các anh chị.  Chúng tôi hỏi thăm và nhìn “bà con” với bác Daniel Phước trước tháng tư 1975 làm thứ trưởng Bộ Kế Hoạch, quê ở Bến Tre.  Quen bác Lý ở Rennes dạy cách ngồi kiết già, bác trên 70 tuổi mà ngồi xếp chân dẻo và gọn.  Anh Hùng ở Lyon giỏi thuộc ca dao thơ phú, anh đọc thơ chúc Tết khiến mọi người cười đến đau bụng.  Chúng tôi cũng làm quen với các sư cô, có sư cô quen được từ lần Cergy năm ngoái.  (cô Trí Niệm, Pháp Hải, Pháp Thủy) và nhất là ban ẩm thực lúc nào cũng bận bịu cơm nước khiến nhiều lúc Thầy kêu phải bỏ việc ra nghe giảng (Chị Diệu Hạnh, cô Farida...) với các bạn ở xa như Phượng, Vân... ở Houston, Suzie... và ở gần như Vinh, Ngọc, Nathalie...
Đêm thứ năm, muốn cho các trẻ con được chung vui với người lớn Thầy bầy trò chơi gọi là Gió nghiệp cho tất cả.  Đó là một loại «chaise musicale»: khi tiếng nhạc trỗi lên mọi người đứng lên chạy vòng quanh các chiếc ghế và ngồi xuống khi nhạc dứt hay tất cả đã tìm ra chỗ ngồi, trừ một người.  Vì số ghế ít hơn số nggười 1 cái.  Người mất ghế sẽ «bị phạt» bằng cách ra giữa vòng tròn «sân khấu» làm một cái gì đó (hát, múa, kể chuyện) rồi rao: gió thổi! gió thổi!
Người ngồi sẽ đồng thanh hỏi: thổi gì? Thổi gì?
Người mất ghế sẽ chọn một điểm đặc biệt nào đó càng chung cho nhiều người thì càng tốt vì những người này phải bỏ ghế đứng lên chạy đi tìm và ngồi vào một chiếc ghế trống khác ở một  chỗ khác.
Thí dụ :
-          Gió thổi !  Gió thổi !
-          Thổi gì ? Thổi gì ?
-          Thổi tất cả những người mặc áo màu đen !
Những người mặc áo đen sẽ bị gió thổi chạy quanh tìm một ghế khác.  Người nào «quên» chạy sẽ bị phạt mất ghế.

Trò chơi rất vui này được mọi người ưa thích, nhất là trẻ  con.  Nhiều đứa  phụng phịu vì  không hiểu tiếng Việt.  Nhưng khổ nỗi là lắm khi chưa kịp dịch sang tiếng Pháp thì đa số người lớn đã ba chân bốn cẳng chạy đi, nhiều người lúc nào cũng sẵn sàng chạy dù chẳng hề mang trên mình bất cứ dấu hiệu nào do người mất ghế xướng lên.
Nhưng thử hỏi, làm thế nào bây giờ vì ai cũng muốn chạy nhanh và chạy trước.  Chờ dịch tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Hoa thì thế nào cũng lọt sổ.  Cho nên cứ nghe gió thổi là đứng lên chạy tuốt hết cho... chắc ăn.  Cô đầm Mara bị mất ghế ba bốn lần có lẽ vì không hiểu tiếng Việt, tuy lần nào cô cũng chạy, chạy miết thì mệt nên bị hụt ghế hoài, cứ bị ra làm gió thổi.  Nhưng cô rất sung sướng. Cô hả mồm thật to vừa thổi hơi thật dài hét thật lớn: Le  VENT  S...O...U...F...F..L..E... cô  vừa giơ cao tay làm gió lùa rất trình diễn sân khấu nên được trẻ con lẫn người lớn thích thú, tất cả cũng hét lớn trả lời cô : S...O...U...F...F..L..E...Q..U...O...I ?
Ngay cả đám trẻ con sau đó cũng chẳng cần chờ dịch, vừa nghe xướng là chúng cứ chạy. Thành ra cuộc chơi vui nhộn.  Thông thường người lớn hay bị mất ghế.  Mấy đứa nhóc chạy nhanh chạy giỏi nên ít khi phải ra xướng, và khi chúng xướng thì đầu đề hay và lạ hơn :
-          Gió thổi những người cảm thấy mình đẹp/xấu!
-          Gió thổi những người không có tóc/ tóc dài/ tóc ngắn!
-          Gió thổi những người thấy mình ốm/mập!
Rất nhiều, rất nhiều người chạy: người đẹp và người xấu, người mập lẫn người ốm nhom, người có tóc ngắn dài lẫn người không có tóc.
Dĩ nhiên với vớ trắng hay vớ đen, quần xanh hay áo đỏ thì rạch ròi rõ ràng, còn các thứ tĩnh từ rất chủ quan thì khó phán đoán, với lại «quên» chạy mới bị phạt chứ «chạy nhầm» không có sao cả.  Một số người khác thì chẳng cần biết, hễ  thấy người ta chạy là chạy theo.
Thầy Hằng Trường có tham gia trò chơi và Thầy cũng hơn một lần bị mất ghế.
Trò chơi vui, nhưng tưởng như vô thưởng vô phạt.  Nhưng hôm sau thầy giảng, chúng tôi mới nghe được ý nghĩa mới lạ.  Gió thổi ở đây là gió nghiệp thổi.
Thầy gọi những người cùng chạy là có «cộng nghiệp»; vì tất cả chúng ta đều mang nghiệp.  Khi gió (nghiệp) thổi, ai cũng bị cuốn vào vòng; chúng ta ai cũng tạo nghiệp, mang nghiệp nên phải trả nghiệp.  Nghiệp vay trả nặng nhẹ khác nhau.  Trong cuộc chạy này, những người cùng «nghiệp» (cùng mặc quần jean; cùng đeo hoa tai; cùng mặc áo trắng vân vân) thì bị thổi cùng lúc.  Người «chạy đại» theo thiên hạ: nghiệp vô minh. 
Có lẽ như cuộc chiến hơn ba mươi năm về trước khiến vô số người  Việt Nam chịu cùng một cái nghiệp: nghiệp cùng phải chạy bộ suốt đại lộ kinh hoàng, nghiệp phải đi suốt dọc Trường Sơn để cùng chịu bom đạn, nghiệp bị cướp/cháy nhà cửa, tài sản, sinh mạng, chịu cơ cực tù tội, phải trốn chạy vân vân.  Chúng tôi không nhớ Thầy dùng chữ gì để gọi những kẻ «lôi kéo» người khác hay quyết định vận mạng của số đông thí dụ phe cánh diều hâu đã hạ lệnh «hi sinh đến giọt máu cuối cùng (của thiên hạ)» vào cái cộng nghiệp này?  Những nhà độc tài như Staline, Pinochet, Hitler...  Không biết cái quả họ nhận lãnh sẽ là gì, như thế nào cho những kiếp sau? Hay  sự việc vô số chúng sinh bị cuốn  phăng vào các cơn hoạn nạn khổng lồ ấy chỉ là cái quả họ phải trả cho nghiệp chướng tạo nên từ bao nhiêu kiếp trước?  Và những tên sát nhân nói trên chỉ là cái cớ?
Thầy cũng giải thích vì sao lũ trẻ con thích trò chơi này: chúng yêu chân lí.  Đêm cuối cùng trẻ con ra trình diễn văn nghệ và trình bày các tác phẩm hoàn thành trong suốt tuần lễ sinh hoạt. Ông bà Sơn Dân và Lưu Hương Lan, cô Mara cũng nhận quà rồi từ giã về Cergy chuẩn bị weekend Càn Khôn Thập Linh Cergy tiếp nối cho khoá tập năm trước.  Chúng tôi tiếc không tham dự được vì bận.
Trong buổi học cuối Thầy khen thưởng ban tổ chức (được Thầy và cô Vân mạnh thường quân Canada cho hai (hay 3) vé máy bay sang California học cách... tổ chức và làm việc với Hội CSS chánh gốc Mỹ do Thầy thành lập năm 2002)
Ban tổ chức thu dọn.  Mọi người chụp hình nhau và trao đổi địa chỉ.  Thầy cũng phụ giúp các anh chị chuẩn bị mang đồ đạc trả cho chùa (Linh Sơn).  Đoàn xe sẽ đi Paris thăm viếng phố phường chụp ảnh rồi Thầy sẽ đưa đi Lourdes sau đó.
Chúng tôi cũng chuẩn bị trở về nhà.  Về nhà sau mười ngày mà tưởng như mình vừa đi một chuyến thật xa thật mới lạ.
Càng suy nghĩ càng cảm động và biết ơn.  Bỗng tự nhiên mà được Thầy từ xa đến dạy cho một bài học (tưởng là) thật giản di.  Bạn chúng tôi giải thích đó gọi là có duyên.  Duyên hay may mắn, cái nào cũng được.  Lúc nào nhớ lại thấy thương Thầy và các anh chị theo phụ Thầy cũng như những người đồng học[26].   Đúng là thấy mình có phước, có duyên.  Được học những bài học mới khi đã qua hơn nửa đời người.  Ước mong chúng tôi sẽ luôn may mắn để có thể cố gắng học không ngừng cho khỏi phụ công ơn này.
Trọng & Tuyến (Thân Tấn Lực & Thân Diệu Trí )
Tháng 7- 2007







[1] Sau đó, trong một bài giảng thầy nói cảnh vật bên ngoài bao la và chúng tôi bên trong ngồi san sát nhau (như "sardines") không biên giới không cách biệt, rất đúng với đề tài Pháp Hội, với sự  bao la của Tâm Từ Bi. Ở Mĩ, tương tự như thế, một khoá Thiền cao cấp tổ chức tại vùng rừng nhiều cây hồng mộc ( red wood) vạn niên cao ngất trời thật hợp tình hợp cảnh.


[2] Giá một đêm khách sạn tạm được ở Paris thường là trên 60 euros ! Và chỉ có ăn điểm tâm mà thôi.


[3] Sau  này biết đấy là nhờ vài cháu bé đập ống lấy tiền trang trải chi phí vẽ bức tranh.


[4] Xin xem bài kì trước


[5] Xem Shujingong videoclip trong hnpv.org, thầy Hằng Ðức dạy.


[6] Lần tổ chức này chưa được chu đáo, tối đó Thầy bị lôi đi lòng vòng, chúng tôi bất ngờ được chỉ định làm tài xế mà không tròn nhiệm vụ, chúng tôi thật áy náy đã bắt thầy ngồi chờ khá lâu ngoài trời khuya lạnh. 


[7] Chúng tôi thì khỏi nói, đã là đệ tử thầy từ tháng 11 năm ngoái, xin xem bài kì trước.


[8] Thí dụ: Lí do Thầy xuất gia/ giai thoại lần đầu tiên Thầy gặp Thầy Tuyên Hoá,/ về mối quan hệ với đệ tử (Thầy nói thích nghe kể chuyện vui mỗi lần họ gọi điện nhưng thông thường thầy nghe kể chuyện không được vui )


[9] lần đầu tiên festival này được tổ chức năm 1986 tại San Francisco.  Càng lúc càng thành công và vì quá đông đảo người tham dự đến từ nhiều tiểu bang và nhiều nước trên thế giới, sau đó festival được dời về sa mạc Black Rock thuộc bang Nevada kể từ 1990.  Năm nay 2007, Burning Man sẽ mang màu xanh của thiên nhiên.
Tất cả các công trình nghệ thuật làm ra trong khoảng thời gian gặp gỡ này sau cùng sẽ bị thiêu như hình nộm.  Dù rác rến được lượm sạch các nhà tổ chức vẫn lo nghĩ đến vấn đề ô nhiễm không khí do chuyện thiêu đốt các tác phẩm, đó sẽ là một trong các đề tài festival.


[10] Tiếng Pháp là QI và QE, xin xem bài giảng Mô Hình tu toàn diện của Thầy, ở đây chúng tôi chỉ lại những gì ghi chép và hiểu được cho nên rất nhiều thiếu sót.


[11] Xin vào website hoanghiemphapvong xem bai  giảng của thầy về hạnh Bồ tát


[12] Xin xem bài tường trình TT ở Cergy


[13] Đọc bài phỏng vấn Thầy Hằng Trường của Nguyễn Linh Giang 


[14] Xem các bài giảng của Thầy HT về các luân xa.


[15] Xem mục lục các CD,MP3, DVD, chương trình khai tâm...


[16] Xin xem tiếp ở đoạn sau


[17] Bây giờ nhiều hơn một chút. Và sau này khi theo tập với chú Trí Tân, nhờ chú chỉ dạy thêm và sửa đổi những chỗ sai, thì hầu như chúng tôi nhận nghe khí di chuyển nhi ều hơn, và mồ hôi tuôn ra nhiều hơn và nhất là không còn nghe đau nhức vì vận dụng sức sai
 


[18] Xin xem bài giảng Thầy HT tủ sách CSS


[19] Xin quảng cáo với ai chưa biết: hai người là hai "giọng tốt" trong cục "nhưn" chủ lực của ca đoàn Ngàn Khơi


[20] Không biết em căn cứ vào đâu để nói vậy, sự thật là trong một tháng, nhờ học trên đường đi trong vài chuyến đi xa, tụi tôi nhớ rõ từng câu hết cả bài chú. Mừng quá  vội khoe ngay với bạn, thiếu khiêm tốn nên bị trời phạt : sau đó quên gần hết. Thì ra vì quên rằng Thầy dặn phải siêng năng trì tụng mỗi ngày. Phải mấy tháng sau nữa, nghĩa là hơn một năm sau pháp hội chúng tôi mới thật sự thuộc lòng ! 


[21] Đọc thêm bài 7 phương cách truyền thông


[22] Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát nguyện con mau biết tất cả pháp
Nam mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát nguyện con sớm được trí huệ nhãn ..../vuợt qua biển khổ/thành giới định đạo/vân vân cho đến đồng thân pháp tánh...hướng về núi đao, núi đao sẽ sập...


[23] Từ mức Phàm phu – là chúng ta /tôi đến Thập địa có nhiều thang bậc như Thập trụ đến Thập Hạnh.  Trong Thập Ðịa có mười bậc là Sơ địa, Li cấu địa, Phát quang, Hiện tiền...  Thiên địa huệ, Pháp Vân địa v...v…  Và chỉ có QTA Bồ Tát mới vượt qua thần kì các bậc trong khi kẻ phàm phu cần đến hàng vạn ức kiếp để qua một bậc nhỏ.  Xin xem/nghe các bài giảng Thầy Hằng Trường.  Tủ sách CSS California.


[24] của Chư Phật, là lời cầu nguyện nêu tên quỷ thần, gọi các chư Phật, vinh danh chư Phật, là lời ước nguyện chân thành.


[25] Quên kể rằng nhờ một tuần lễ nghỉ hè và bị hyc rượt chạy có cờ
 


[26] Khiến chúng tôi nghe gần gũi, thông cảm qua những câu hỏi trong lớp học hay chuyện đời riêng tư (đồng thể tính? như lời Thầy giảng?)



< Sửa đổi: siliconband -- 2/10/2008 2:22:47 AM >

(trả lời: siliconband)
Bài số: 7
Trang:   [1]
Các Diễn Đàn >> [Văn Học Nghệ Thuật] >> Khoa Huyền Bí Học >> Pháp Hội Paris 2008 với thầy Hằng Trường Trang: [1]
Chuyển tới:





Bài Mới Không có Bài Mới
Đề Mục Nóng Hổi (có bài mới) Đề Mục Nóng Hổi (không bài mới)
Khóa (có bài mới) Khóa (không bài mới)
 Đăng Đề Mục Mới
 Trả Lời
 Trưng Cầu
 ý Kiến của Bạn
 Xóa bài của mình
 Xóa đề mục của mình
 Đánh Giá Bài Viết


Thành Viên đã Đóng Góp cho tháng 6-10/2009:
Mai Dang, Bao Cuong, vann, Tương Kính

Login | Góc Riêng | Thư Riêng | Bài Trong Ngày | Bài Mới | Lịch | Các Thành Viên | Các Diễn Đàn | Ảnh

Xin mời các bạn qua thăm Phố Cũ, có rất nhiều bài vở để xem.

Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode