|
Sách có trăm quyển. Sách để đứng kệ ngăn đầy một góc thư phòng. Sách phần lớn là những pho cổ thị Ông cụ về già nương náu cõi lòng vào những pho cổ thi đó như sư sãi ẩn thân kinh kệ chốn cửa chùạ Kinh kệ hướng tâm về đạo của người tu hành. Cổ thi dẫn dắt người già tuổi tác như ông về với tiền nhân khuất bóng. Khuất thân xác, hồn vẫn không khuất vì thơ của cổ nhân ngàn năm còn lưu truyền hậu thế. Đấy là pho quyển, đấy là mộc ngữ in khắc để lại đờị Đêm khuya khoắt, ông cụ tìm về với người xưa qua thơ trên những trang giấy cũ.
Ngoài xóm ngõ, bóng tối nhòe nhoẹt. Im ắng tĩnh mịch không còn nghe tiếng chân người, bánh xe lạo sạo lăn trên sỏi đá. Vườn tược con dế, con giun kêu ri rị Âm điệu trầm và buồn của bản đồng ca được ban nhạc đại hòa tấu của loài giun dế hát bè liên tu bất tận kéo suốt một đêm dàị
Tuổi cao, ông ngủ ít. Thức ngồi ngó vầng trăng nếu khuya có trăng. Thức uống trà ngắm bụi hoa nhài trồng chậu đặt gần nơi cửa sổ mở. Thức mở sách quyển cổ thi của các nhà thơ xưa đọc là vậỵ
Mệt, mắt có lúc mỏi nhìn không thấy chữ, ông tìm ngẫm nghĩ bài vừa mới xem. Óc não thả trôi suy tư như con sông nước chảy theo dòng chảỵ Đến đâu đó, xa tít tắt, ông chẳng hề hay biết nơi và chỗ ông đến là đất vùng nào, đi bao nhiêu dặm đường. Đấy là cơn mợ Mơ khi ông chợp mắt mà thiếp.
2.
Rõ ràng chiêm bao thấy lại tưởng như đang thức. Ấy là lúc ông đi lững thững thả bộ trên khúc đường vắng vẻ, ngắm cảnh xa gần, thấy cây cối xanh tốt cành lá, thấy hoa nở bông, cây kết trái, chim chóc hót, vui chân cứ thế mà nhàn tản rong chơị Chợt thấy một lão nhân cứ bước tới bước lui, tay vung như múa, miệng thốt hoài hai chữ "thôi xao" "thôi xao", ông nghĩ gặp người mắc chứng dở hơi khùng mát. Tính bỏ đi không muốn dính chuyện rắc rối với kẻ bất bình thường, nhưng nhác thấy ông thì lão nhân đưa tay lên ngoắc vừa đọc giọng như ngâm:
"Điểu túc trì biên thụ Tăng xao nguyệt hạ môn"
Laị hỏi rằng: "thôi hay xao" "xao hay thôi", theo ông ông thấy "thôi hay xao" mới thực đúng.
Ông nghe đâm lúng túng không dám góp bàn. Biết là diện kiến bậc thi lão tiền bối, ông mới cung kính khum lưng mà bẩm:
-Thưa tiên sinh, chẳng hay danh tánh ngài tên chi có thể cho biết.
-Ta là Giả Đảọ Thuở thiếu thời lận đận nên thi cử có nhiều mà không đỗ đạt. Có lúc chán ngán chuyện sách đèn, xuất gia cửa Phật, gõ mõ tụng kinh tại chùạ Chùa luật lệ tu hành khắc nghiệt, tính ta thì hoang tàng, bởi thế mà phá giới bỏ đạo không thèm khoác áo nhà sự Năm nào năm ấy, cứ đúng giao thừa, đem thơ làm ra cúng rồi hạ xuống đem đốt. Rượu uống chưa cạn, ta đổ rượu tràn lan vung vãi, thấy quá buồn bã mới than rằng "vì mày mà ta khổ nãọ Thơ mà ra cả". Bữa nay ta đi ngang qua đây, bí vì hai chữ "thôi xao" mới nhức đầu bực bộị Gặp ông đây cũng là duyên tiền định. để ta đọc ông nghe bài thơ ta đã làm được cho ông nghẹ
Này:
"Nhị cú tam niên đắc Nhất ngâm song lệ lưu Tri âm như bất thưởng Qui ngọa cố sơn thu".
Ngâm xong, ông chưa kịp hỏi thêm thì vị lão nhân đã leo lên lưng lừa, đủng đỉnh cưỡi mà đị Bóng núi xa, cây rừng lả ngọn, lối mòn in dấu rắn bò trườn, người và lừa khuất dạng nơi bồng lai tiên cảnh. Ông đứng nhìn theo tiếc nuối, mắt rỏi đỉnh non mà động lòng thương nhớ người xưạ Miệng đọc lẩm nhẩm, ông ghi nằm lòng câu thơ ý nói: "làm thơ ba năm mới được có hai câu, ngâm rồi ứa hai hàng nước mắt, đã thế chẳng có ai tìm đọc, nhà thơ về ở ẩn nơi sơn giã, ôi, nghĩ ra nó buồn bã thê thảm thật".
Lại đi tiếp, đường đổ về mé sông. Chiều ngả bóng. Tối nhập nhoạng. Song chắn ngang con lô.. Nước lững lờ. Bờ bãi rộng nên đứng bên này nhìn sang bên kia, đất hai nơi xa thật xạ Bấy giờ có con thuyền neo gần mép bờ, trong tĩnh mịch nơi sông vắng, ông chợt nghe có người ngâm thợ Cứ hai câu thôi, kẻ thả thuyền vịnh cảnh đọc đi đọc lại mãi vẫn chỉ là:
"Nguyệt lạc, ô đè, sương mãn thiên Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên"
Đọc thế có cả năm bẩy lần. Ông lấy làm quái lạ mới ngồi rình theo dõị Dưới ánh trăng lung linh mờ phủ, mái chùa Hàn San không xa rõ ẩn hiện trong vầng nguyệt. Bỗng ngân nga tiếng chuông thỉnh, âm thanh như lớp lụa mỏng trải khắp xa gần. Khách neo thuyền chợt reo lên một tiếng, đọc lớn hai câu thơ:
"Cô Tô thành ngoại Hàn San tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền".
Ngâm rồi rời thuyền lên bến bãị Ông vội đứng ngay dậy, đuổi theo khách và lễ phép hỏi rằng:
-Thưa lão tiền bối, mạo muội xin có đôi lờị Chẳng hay lão tiền bối danh tánh tên ra saọ Kẻ hậu sinh biết rằng vô phép vô tắc, vì tò mò và ngưỡng mộ, hỏi cho rõ để thỏa lòng.
Cụ già râu trắng như cước, áo vận đơn sơ, đã chẳng phật ý mà còn cười vui tựa hoa vừa nở:
-Ta tên Trương Kế.
-Vạn hạnh được diện kiến với lão nhân thi bá. Lúc nãy mới đến đây, kẻ hậu sinh nghe lão thi bá đọc đi đọc lại hai câu thơ thôi, chẳng hay vì cớ gì lại đọc đi đọc lại mãi như thế hai câu thơ đó là ra làm sao ạ.
Cụ già lại cười tươi rồi bảo:
-Ta bí. Được hai câu rồi ta bí.
-Còn hai câu sau, lão thi bá chợt hứng khởi làm tiếp, nguyên do từ đâu rạ
-À, từ tiếng chuông. Ông không nghe thấy tiếng chuông ngân nga từ chùa Hàn San trên chót núi âm vang saọ
-Thưa có. Vậy là do tiếng chuông.
-Phảị Do tiếng chuông làm bật cái ý thơ cho nên ta mới bộc phát được hai câu saụ Thôi nhé, ta đi đâỵ
Cụ già chống gậy trúc, bước rảo trên đường về ngã mây mù cuốn phủ. Bóng dáng ẩn hiện, hình đi như baỵ Ông bỏ vùng sông nước, quay về xóm thôn, thấy đây đó đèn thắp tù mù. Bỗng nhận ra có người đi trước, đủng đỉnh lững thững như rong chơi dưới trăng khuya, ngâm nga thơ đọc:
"Bồ đào mỹ tửu, dạ quang bôi Dục ẩm, tì bà, mã thượng thôi Túy ngọa sa trường, quân mạc tiếu Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồị"
Ông đi sau không nhìn rõ mặt, mà có nhìn rõ mặt cũng chẳng nhận ra aị Cổ nhân là người xưa, quen không quen, biết không biết, ông với người đi trong đêm khuya khoắt chỉ là khách lạ. Nhưng qua thơ, ông bỗng nhớ ra bài thơ đó ông đã đọc. Vương Hàn. Lương Châu Từ là đề tựạ Vương Hàn là tác giả. Lúc ông nhận biết người lạ đi trước là nhà thơ tiền bối Vương Hàn, mừng rỡ chưa kịp ra lẽ, ông già họ Vương đã như chim khổng tước bay vù vào cõi hư không. Lúc đó, con chó bên hàng xóm sủa hoảng. Ông tỉnh giấc nhìn lên khung cửa sổ, có vầng trăng lưỡi liềm mắc vướng. Nhắm thời khắc, giờ giấc mới quá nửa khuya, đọc tiếp chưa nửa quyển, mắt lại nhíu, mệt rồi ngủ thiếp quen đị Chợt có người vỗ vai bảo khẽ rằng:
"Đêm nay, ta thấy ngươi tìm gặp ta nên ta ghé đến. Vậy biết ta là ai không ?". Đáp: "Thưa khong". Hỏi nữa: "Bài Niệm Nô Kiều, bài Thủy điệu Ca đầu", bài đọc Mạnh Giao Thi, bài Hải đường và vô số bài khác đều là do ta viết ra cả.
-Kẻ hậu sinh này có đọc. Thưa tiền bối, do đâu và lý do nào tiền bối lại hạ bút viết đoạn thơ bi ai và thống khổ như đoạn thơ ngắn nàỵ Xin được đọc:
"Vĩnh quí thử bang nhân Mang thích tại phu cơ Bình sinh ngũ thiên quyển Nhất tự bát cứu cơ"
Thở một tiếng dài, người xưa mới nói:
"Bài đó đặng chẳng đừng tôi viết nó rạ Ấy chẳng là tim mình nung nấu, óc não không yên, giận đời giận người mà căm phẫn. Thời đó, Vương an Thạch bị cắt chức, Lữ Huệ Khanh lên thay, bầy đặt chuyện sưu cao thuế nặng, bổ đầu dân mà đánh. Ở miệt Mật Châu, trăm họ nghèo kiết xác, lắm người phải bỏ nhà bỏ cửa đi ăn mày, chết đói chết rét la liệt cả. Chính tôi đây, mấy thời làm quan mà nuôi không nổi thân, cũng chỉ vì lòng nhân đức phải cưu mang ba bốn chục trẻ côi cút, nuôi cho chúng sống qua lúc cơ hàn. Mình làm thơ, thơ là tâm, cái đau đến độ đau như dao cắt thịt, đau thời phải la, đau thời phải dùng chữ dùng thơ để nói lên cái đau đó chứ. Thế vậy thôi ông ạ. Nên mới viết rằng:
"Vĩnh quí thử bang nhân. Mang thích tại phu cợ Bình sinh ngũ thiên quyển. Nhất tự bát cứu cơ". Ta cũng có làm một bài thơ khác nữa, kể cái khổ tam của mình lúc tại chức thông phán phải ngồi xử án người dân. Chỉ vì nghèo mà can tội buôn bán muối lậu, ta hạch tội phạm nhân lại nghĩ bản thân đâm ra hóa tủị Bài đó để ta đọc cho ông nghe qua:
"Trừ nhật đương tảo qui Quan sự nãi kiến lưu Chấp bút đối chi khấp Tri thử hệ trung tù Tiểu nhân doanh hầu lương Truy phong bất tri tu Ngã diệc luyến bậc lộc Nhân tuần bất qui hưu Bất tu luận hiền ngu Quân thị vị thực mưu Thù-y năng tam túng khiển Mãn nhiên quí tiền tu".
Đọc đến đây, ông Tô cười lên một tiếng rồi rẽ ngõ rảo bước khuất. Tiếng cười như vải lụa xé khiến ông tỉnh giấc mợ Người xưa xuất từ những trang thơ cổ tìm về với ông như khách phương xa đến. Đến nói dăm ba câu chuyện rồi đị Đêm chưa sáng rõ, ông đốt lửa bắc ấm nước pha bình trà. Trà mộc, vị chát đắng, hương nguyên chất của lá trà không ướp sen hay nhài, gọi là mộc trà theo đúng nghĩạ Ông ngồi uóng, ngó bụi nhài hoa nhỏ cánh trắng, vẫn đâu đó thoang thoảng mùi thơm dịu và mát. Bỗng chợt có hứng thú, ông cầm bút phóng nhẹ đầu ngòi, ghi những gì vừa đến trên trang sách mở.
Đấy là bài thợ Thực ra nguồn cảm hứng đó đã khởi lên từ lúc xâm xậm tối chiều bữa qua, lúc ông dở mấy pho thơ cổ, lúc ông nghe tiếng đàn bầu ai gẩy nhà bên, lúc nỗi trống vắng buồn bã đi vào hồn ông như cảnh hoàng hôn nơi bãi sông có con chim cuốc kêu gọi bạn. Chữ nối chữ, dòng tiếp dòng, cuối cùng lúc trời dựng sáng, bài thơ ông viết đã hình thành. Lại một ngụm trà, ông ngồi đủng đỉnh ngâm nga:
Đêm nghe tiếng đàn bầu ai gẩy Nhìn vầng trăng lên, rượu đang say Dở trang thơ cổ ngâm nga đọc Ngẫm cảnh người xưa và người naỵ Sách ngàn năm chữ còn trên giấy Người đâu rồi: xương đấy mả mồ Mộ cỏ vẫn kia, đá xanh bia tạc Cốt mục rồi, tro xương cây khộ Đêm nghe đàn bầu đọc thơ người xưa Trăng non đã lặn, lất phất mưa Ngồi uống ngụm trà chờ sáng tỏ Bóng cúc bên hè, gió đong đưạ [1]
2.2000
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|