|
Thấm
thoát ba tuần lễ về thăm quê hương Việt Nam sắp chấm dứt. Ngày mai mẹ
tôi và tôi lên máy bay về Mỹ. Cuộc thăm viếng này đã đem lại cho chúng
tôi nhiều niềm vui, đồng thời cũng gợi lại nhiêu kỷ niệm buồn.
Gặp
lại bạn bè, bà con, được ăn những bữa cơm thanh đạm với bát canh cua,
vài quả cà pháo và tình cảm chân thành của họ dành cho chúng tôi là
món quà vô giá. Đi qua căn nhà cũ, nơi mẹ đã đổ bao mồ hôi và nước mắt
xây dựng, nuôi nấng, dạy dỗ tám chị em chúng tôi, tôi không khỏi bùi
ngùi. Căn nhà tuy có thay đổi chút ít, tôi vẫn hình dung được mẹ với nụ
cười thương yêu khi cho chúng tôi đi học về. Sự vắng mặt của bố tôi
khiến cho trách nhiệm của mẹ tôi càng nặng nề nhưng nhờ nhẫn nại và chịu
khó, mẹ đã giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn.
Bây
giờ ngồi đây, trong cái khách sạn đã gợi lại cho mẹ và tôi một kỹ niệm
đau lòng. Nhìn mẹ tôi đang ngồi trầm ngâm bện cạnh cửa sổ nhìn xuống
đường, tôi biết mẹ đang buồn lắm. Dĩ vãng lần lượt hiện rõ ra trong
trí tôi.
Bốn
mươi năm về trước hồi tôi là một con bé mười tuổi. Một buổi tối cuối
mùa đông, mẹ dẫn tôi đến đây, cái khách sạn này, để xem những lời đồn về
bố ngoại tình với cô vũ nữ có đúng không. Sự nghi ngờ của mẹ đã được
trả lời bằng một sự phũ phàng. Bố và cô vũ nữ ngất ngưởng, tay trong tay
lả lơi, tình tứ. Tôi thấy tay mẹ bám mạnh vào vai tôi. Tôi phải loạng
choạng mấy bước mới lấy lại thăng bằng. Khi ngước lên, tôi bắt gặp cặp
mắt ngỡ ngàng của bố. Tôi thấy ông tiến lên vài bước rồi thụt lại quay
vào. Mẹ tôi òa lên khóc, dắt tôi thất thểu về nhà. Tôi không hiểu tại
sao mẹ lại đem tôi đi theo. Có phải vì bố cưng tôi nhất? Mẹ muốn dùng sự
có mặt của tôi để thức tỉnh bố chăng?
Về
đến nhà, bác Tằm người đã cho mẹ tin tức về cô vũ nữ muốn biết tại sao
mẹ không đối chất với bố và người tình của ông thì mẹ chỉ nói làm như
vậy chỉ vạch áo cho người xem lưng. Mẹ tôi lúc nào cũng chỉ âm thầm
chịu khổ một mình.
Mẹ
tôi sinh trưởng trong một gia đình nề nếp. Ông ngoại là ông huyện.Bà
ngoại là một người đàn bà rất đảm đang. Ông bà ngoại rất yêu mẹ vì mẹ
ngoan và đẹp. Lớn lên mẹ yêu bố. Bố đẹp trai, bay bướm lại là nhân viên
cao cấp của bộ thể thao thời bây giờ. Mối tình của bố mẹ không được
ông bà ngoại hưởng ứng nhưng vì thương con nên ông bà đành phải chìu
mẹ.
Những
năm đầu làm vợ, mẹ đã được sống trong hạnh phúc. Chị tôi, hai ông anh
rồi tôi lần lượt ra đời. Chúng tôi chỉ cách nhau có một tuổi. Tính bố
hào hoa thích ăn chơi nhảy nhót. Tiền lương của bố chỉ đủ để đãi bạn
bè. Nuôi chúng tôi phần lớn nhờ vào tiền hồi môn và sự giúp đỡ khéo léo
của bà ngoại. Bà ngoại biết hoàn cảnh của con nên lúc nào đến thăm là
cụ lại mang đến vài bao gạo, vài cân cá khô, tôm khô và một bao thư lì
xì cho các cháu.
Rồi
hiệp định Genève ra đời, chia đôi đất nước. Bố mẹ và chúng tôi di cư
vào Nam. Gia đình chúng tôi ở trong một căn nhà rất nhỏ gồm một phòng
khách, một phòng ngủ và một nhà bếp. Phòng khách ban đêm trở nên phòng
ngủ của chị em chúng tôi. Việc làm của bố không được như xưa. Không có
sự giúp đỡ của ông bà ngoại, gia đình chúng tôi trở nên túng quẫn. Mẹ
tôi kiếm cách nuôi chúng tôi bằng nghề nấu cơm tháng. Bố thấy vậy lại
càng ít về nhà, lấy cớ đi làm ăn. Dăm thì mười họa ông về chơi, ở lại
một vài ngày rồi lại đi. Bốn đứa em tôi sinh ra trong hoàn cảnh đó. Mới
đầu tôi còn mong bố về vì nhớ bố. Trong đám anh chị em tôi, bố thương
tôi nhất. Bố bảo tôi giống mẹ, nhiều tình cảm và dễ tha thứ. Tôi nhiều
tình cảm thì có lẽ đúng nhưng dễ tha thứ? Bố đi vắng hoài làm sao bố
hiểu tôi được. Từ ngày mẹ và tôi bắt gặp bố quả tang trong tay cô vũ
nữ, bố không về nhà nữa. Bố xấu hổ trước sự im lặng của mẹ chăng? Chúng
tôi chỉ còn có mẹ để nương tựa. Mẹ là rường cột, mái ấm che chở cho
chúng tôi. Ngoài giờ học tôi phải giúp mẹ trong bếp, nấu cơm phần để
các anh tôi trao cho từng nhà. Mẹ dạy từ ba giờ sáng nhặt rau, vo gạo
để sửa soạn cho hai bữa cơm trưa va chiều cho khách. Nhiều khi bắt gặp
mẹ nước mắt ràn rụa, tôi đưa mắt dò hỏi thì mẹ lặng đi, đổ tại khói,
tại hành làm cay.
Cuộc
sống của mẹ con chúng tôi cứ như vậy lặng lẽ trôi đi. Chị tôi đã lập
gia đình. Hai ông anh tôi đã vào quân đội. Sau khi lấy được bằng tú tài
hai, tôi quyết định đi làm để giúp mẹ và các em. Sự khổ cực đã làm mẹ
tôi già trước tuổi. Nhìn mẹ tôi caœm thấy xót xa. Xót xa cho thân phận
của một người đàn bà. Tuy bị phụ bạc mẹ vẫn không quên bố, vẫn hy vọng
bố sẽ ăn năn trở về với mẹ.
Tôi
lấy chồng được một tháng thì miền nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản.
Anh rể tôi tôi là sĩ quan hải quân và anh đã thu xếp để gia đình hai
bên cùng lên tàu đi tị nạn. Hôm sửa soạn hành lý để ngày mai lên đường,
tôi thấy mẹ khóc khi nhìn ngắm mấy tấm hình cưới của mẹ và bố. Thấy
vậy tôi nảy ra ý định lam sứ giả hòa bình. Không có thì giờ để suy nghĩ
thiệt hơn tôi hỏi ý kiến các anh chị em trong nhà rồi đến thăm bố tôi,
báo cho ông biết rằng chúng tôi đã có chỗ trên tàu nếu ông quyết định
đi với mẹ và chúng tôi. Ngày lên tàu, bố tôi đến đúng hẹn trước sự vui
mừng của anh em tôi và sự ngạc nhiên của mẹ. Cảnh bến tàu ồn ào, vô
trật tự. Tiếng khóc, tiếng từ biệt của kẻ ở lại ngươi ra đi giống như
một đám tang tập thể. Tôi ngồi cạnh mẹ tôi và chị tôi. Bố tôi ngồi
cạnh các em tôi. Em út tôi, lâu quá mới gặp lại bố, cứ ngây mắt ra
nhìn. Khi tàu sưœa soạn nhổ neo, bố tôi đứng phắt dậy, không nói năng
gì ông nhảy lên bờ. Tôi nhìn lên, thấy cô vũ nữ chạy tới, ôm chầm lấy
bố tôi với nụ cười đắc thắng. Tôi lặng người đi, không ngờ bố tôi lại
có thể tàn nhẫn như vậy.
Đây là lần thứ nhìn ông đã dầy xéo lên trái tim của mẹ tôi, đã làm nhục
chúng tôi... Nhìn những đôi mắt ngơ ngác của các em và nỗi thất vọng
của anh chị tôi, tôi thấy mình có tội vô cùng. Tôi là người đã tạo nên
cảnh đau lòng này. Mục đích của tôi là đem bố về với mẹ nhưng tôi đã
lầm. Bố tôi đã mất hết lương tri. Tôi cúi gầm mặt xuống, không dám nhìn
mẹ tôi, chỉ lí nhí "Mẹ ơi! Tha thứ cho con!"
Định
cư ở Mỹ được bảy năm, tôi nhận được thư của bố tôi. Tôi ngạc nhiên
không hiểu sao ông lại chọn tôi. Ông vẫn tưởng tôi là đứa con nhiều
tình cảm chăng? Ông lầm rồi, trước mắt tôi ông đã chết không những một
lần mà hai lần. Cuộc sống của ông với cô vũ nữ vui hay buồn thì cũng
chả liên hệ gì đến tôi. Tôi để nguyên lá thư trên bàn, lăn lóc cả tuần
không mở ra đọc. Con gái tôi mới sáu tuổi, không biết gì về bố tôi cả.
Nhìn thấy cái thư có dán tem lạ, nó hỏi "Thư của ai vậy mẹ?" "Thư của
ông ngoại ở Việt Nam gửi qua" tôi đáp.
Con bé lại tiếp tục "Sao mẹ không mở ra đọc coi ông ngoại nói gì?" Không muốn con tôi hỏi thêm lôi thôi, tôi mở thư ra đọc.
Ngân con,
Bố ngần ngại rất lâu trước khi viết thư cho con.
Bố biết bố có tội với mẹ con và các con nhiều lắm. Tội đó bố có ăn năn
sám hối mười đời cũng không hết. Mẹ con có khỏe không? Các con vẫn bình
thường chứ? Bác Hiên, bạn thân cuœa bố mẹ ngày xưa liên lạc với bố,
nói là các con học hành ngoan, đã ra trường, rất có hiếu với mẹ. Bố
mừng và cám ơn các con.
Bố bây giờ đang ở trong chùa, lo việc công quả. Cô Hằng và bố đã xa nhau ba năm nay. Chúc con và gia đình bình an.
Bố của con.
Bố
nhắc đến cô Hằng, cô vũ nữ với nụ cười đắc thắng và thân hình uốn éo
như rắn, làm tim tôi nhói lại. Làm sao tôi quên được. Làm sao tôi quên
được sự nhục nhã mà mẹ đã phải chịu đựng bao năm trời ròng rã. Làm sao
tôi quên cái mặc cảm của một đứa con bị ruồng bỏ. Tôi bỏ bức thư vào
ngăn kéo, định bụng sẽ kể lại cho mẹ và anh chị tôi khi có dịp gặp
nhau.
Ba
tháng sau khi nhận được thư của bố tôi, tôi được tin ông đã qua đời.
Thư do một vị tăng trong chùa, nơi bố tôi tá túc trong những năm cuối
cùng của cuộc đời ông, gửi đến. Thư noi là bố tôi mất vì bị bịnh phổi.
Nhà chùa cũng cố gắng lo cho bố tôi nhưng thiếu phương tiện tài chánh
nên thuốc thang không đầy đủ.
Cái
chết đột ngột của ông làm tôi bàng hoàng, hối hận. Tôi tự trách mình
không liên lạc ngay với ông. Tôi tự an ủi sở dĩ bố tôi không đá động gì
bệnh tật của ông trong lá thư gửi cho tôi có lẽ vì ông không muốn
chúng tôi thương hại ông. Ông tự nghĩ ông không xứng đáng nhận sự giúp
đỡ của chúng tôi vì ông đã không làm bổn phận người chồng, người cha.
Tôi không ngờ lá thư mà tôi tôi không muốn mơœ ra đọc đó lại là bức thư
cuối cùng của bố tôi.
Thấy
tôi thẫn thờ, mẹ tôi nhắc, "Sao con không đi sửa soạn đi! Trễ rồi!
Mình còn phải đi mua sắm vài món quà. Tối nay phải đi ăn tiệc từ giã
nữa." Tôi giật mình, ngại ngùng, không biết mơœ đầu ra sao. Liếc cái ví
để trên bàn cạnh giường ngũ, bức thư của bố mà tôi vẫn luôn luôn đem
theo nằm gọn ghẽ trong đó, tôi không nén được tiếng thở dài. Tôi nhìn
mẹ ngập ngừng:
- Con muốn đề nghị với mẹ điều này nhưng con sợ mẹ không bằng lòng..
- Thì cứ nói đi, mẹ nghe.
Mẹ tôi khuyến khích.
- Con muốn đi thăm mộ bố. Mẹ nghĩ sao?
Mẹ nhìn tôi, đôi mắt hiền của mẹ long lanh:
-
Mẹ cũng muốn vậy nhưng cứ sợ con còn giận bố. Thôi, nghĩa từ là nghĩa
tận con ạ. Vả lại, mẹ già rồi. Biết đâu về thăm quê hương lần này lại
chả là lần cuối.
Biết
mẹ nói như vậy để biện hộ cho việc đi thăm mộ bố, để che đậy tình cảm
của mình nhưng tôi chỉ lặng yên. Tôi biết mẹ tôi vẫn còn yêu bố tôi,
một tình yêu mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu nổi.
Ngồi trong xe trên đường đi thăm bố tôi, mẹ ngâm bài thơ mà mẹ ưa thích nhất. Đó là bài "Dại Khờ" của nhà thơ Xuân Diệu.
Người ta khổ vì thương không phải cách
Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người
Có kho tàng nhưng tặng chẳng tùy nơi,
Người ta khổ vì xin không phải chỗ.
Đường êm quá, ai đi mà nhớ ngã
Đến khi hay, gai nhọn đã vào xương.
Vì thả lỏng không kìm chế dây cương,
Người ta khổ vì lui không được nữa.
Những mắt cạn cũng cho rằng sân chúa,
Những tim không mà tưởng tượng trần đầy.
Muốn nghìn đời tìm cớ dõi sương mây,
Dấn thân mãi để kiếm trời dưới đất.
Nguời ta khổ vì cố chen ngõ chật,
Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào.
Rồi bị thương người ta giữ gươm đao,
Không muốn chữa, không chịu lành thù độc.
Mẹ
tôi ngâm xong bài thơ thì taxi chở chúng tôi ngừng ngay trước của
nghĩa trang. Đi quanh co mãi mới tìm được mộ của bố tôi. Mộ ông nằm cô
đơn cạnh cây phượng già cằn cỗi. Trên và chung quanh mộ cỏ hoang mọc
cao gần đến thắt lưng, che hết tấm bia nhỏ dựng ở trên đầu. Lâu lâu một
cơn gió thổi đến, xua nhẹ vài con bươm bướm đậu trên cành cỏ may mong
manh.
Trời
mới vào xuân nên còn mát, nắng còn nhẹ. Tôi đứng yên lặng nhìn bác giữ
nghĩa trang lúi húi cắt cỏ, làm sạch tấm mộ cho bố tôi, bâng khuâng,
tự hỏi không biết đến bao giờ mới trởlại thăm. Chỉ tiếc rằng khi bố tôi
đã thức tỉnh, muốn trở lại với mẹ và chúng tôi thì đã quá trễ.
Bên
tôi, mẹ tôi một tay cầm nén nhang, một tay lau nước mắt, không biết mẹ
khóc bố hay mẹ khóc cho chính mình. Riêng tôi, tôi cầu mong là mẹ tôi
đã trả xong nghiệp chướng.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|