|
CÔNG THỨC THẤT LẠC
(The lost blend)
O.HENRY
DIỆP MINH TÂM dịch
Vì lẽ vị mục sư đã làm phép lành cho cái quầy rượu, và rượu cốc-tai mở màn cho các bữa ăn tối của mấy ứng viên đắc cử, ta có thể kể chuyện về quán rượu. Mấy người không biết nhậu không cần phải nghe nếu muốn, vì lúc nào cũng có quán bán hàng tự động, chỉ cần bỏ một đồng tiền vào một cái khe là có một ly Martini séc.
Anh Con Lantry làm việc bên tỉnh táo của quán Kenealy’s. Bạn và tôi, đứng một chân như ngỗng, thuộc về bên này, đổ tiền lương vào hũ hèm. Đối diện bên kia là Con, sạch sẽ, trầm lặng, tỉnh táo, lễ độ, ăn mặc trắng muốt, đúng giờ, đáng tin cậy, trẻ trung, có trách nhiệm, và thu tiền chúng tôi.
Cái quán rượu (dù được ban phép lành hoặc bị ban lời chửi rủa) nằm ở một trong những “nơi chốn” vốn là những hình bình hành thay vì là những con đường, và chứa chấp quần áo bỏ giặt là, dân New York rách mướp và dân tộc Bô-hê-miêng, và họ không có ăn nhập gì với nhau cả.
Kenealy và gia đình ông sống ở tầng trên của quán rượu. Cô con gái Katherine có đôi mắt đen người Ái Nhĩ Lan – nhưng kể với bạn làm gì cơ chứ? Nên hài lòng với cô bồ của bạn. Vì lẽ Con đang mơ tưởng đến cô Katherine, và lúc cô nhỏ nhẹ gọi anh nơi chân cầu thang khi cô cần một vại bia cho bữa ăn, tim anh ta nhẩy lưng tưng như là sữa nháo nhào trong cái máy xay sinh tố. Quy luật của Tình Duyên là trật tự và khỏe mạnh, và nếu bạn ném đồng tiền cuối cùng của bạn lên cái quầy để gọi whisky, anh pha rượu sẽ nhận nó, rồi anh ấy cưới con gái ông chủ anh, rồi chuyện tốt đẹp sẽ từ đấy mà ra.
Nhưng chuyện như thế không đúng đối với Con. Vì với sự hiện diện của phụ nữ, lưỡi anh đóng cứng lại, da dẻ trở nên tím bầm. Anh có thể trừng mắt trấn áp một thanh niên trẻ bắt đầu bét nhè vì món rượu pha vang Bóc-đô, hoặc dùng vật vắt chanh để giáng cho tên gây huyên náo, hoặc ném một bợm đang kiếm chuyện gây gổ ra ngoài đường cống mà không hề xảy ra một nếp nhăn nào trên chiếc cà vạt vải trắng. Nhưng khi đứng trước một phụ nữ anh lại trở nên mất tiếng, lập cập, cà lăm, ngập chìm trong ngượng ngùng, khốn khổ. Thế khi anh đứng trước cô Katherine thì sao? Run rẩy, không thốt lên một lời nào cho ra hồn, một tảng đá ngậm câm, người si tình ngốc nghếch nhất chỉ biết lắp bắp chuyện thời tiết khi đứng trước vẻ thánh thiện.
Rồi có hai người đàn ông, Riley và McQuirk, da sạm nắng, đi đến quán Kenealy, rồi nhận thuê căn phòng phía sau, chất vào đấy các chai và ống hút và vại cùng mấy lọ thủy tinh đo lường của dược sĩ. Mọi thứ ly tách và bao nhiêu loại rượu đều có đủ trong quán, nhưng họ không nếm giọt nào. Suốt ngày họ quần quật trong đấy, rót thứ này vào thứ kia, dùng mấy chất liệu trong kho của họ pha trộn thành các hỗn hợp này nọ không ai biết là gì. Riley có học thức, làm tính toán trên các rim giấy, chuyển đổi mấy con số theo các đơn vị đo lường từ gallon qua ounce và quart qua fluid dram. McQuirk, con người lầm lì với con mắt đỏ, trút mọi hỗn hợp đã pha chế không thành công vào ống cống với mấy tiếng rủa nhẹ nhàng, khàn khàn và trầm trầm. Họ lao động nặng nề và không biết mệt để chế ra một dung dịch kỳ bí nào đấy như thể giới hóa học điên rồ thời Trung cổ cố sức tinh lọc vàng từ chì.
Một chiều, khi hết giờ làm việc, Con nhàn nhã đi vào căn phòng ấy. Tính tò mò khoa học của anh bị khơi dậy bởi hai chàng pha rượu huyền bí nhưng tạo ra sản phẩm không ai uống, và hàng ngày cứ lấy mấy thứ rượu của quán Kenealy’s để làm những thí nghiệm tốn kém, bất thành.
Cô Katherine đi xuống các bậc cầu thang với nụ cười như ánh nắng ban mai trên Vịnh Gweebarra. Cô hỏi:
- Chào ông Lantry. Hôm nay có tin tức gì không?
Con người cả thẹn nép vào tường, lắp bắp:
- Có thể có m-mưa.
- Không tệ lắm. Tôi nghĩ không có thứ gì tốt hơn một tí nước.
Trong căn phòng sau, Riley và McQuirk cật lực với cách hợp chất lạ lùng của họ, trông như thể là hai phù thủy có râu. Họ rót từ năm mươi chai đựng các chất lỏng theo cân lượng Riley đã tính toán, rồi quậy tất cả vào nhau trong một cái vại thủy tinh. Rồi McQuirk lại trút bỏ ra, với mấy câu phạm thánh rầu rĩ, rồi bắt đầu trở lại.
Riley nói với Con:
“Ngồi xuống đây để tôi kể cho anh nghe. Mùa hè năm rồi, tôi và Tim kết luận là một quán rượu kiểu Mỹ trong cái xứ Nicaragua ấy sẽ cho khối tiền. Một thành phố bên bờ biển không có gì để ăn ngoại trừ kí-nin, không có gì uống ngoại trừ rượu rum. Dân bản xứ và người nước ngoài nằm xuống với cơn phát lãnh và ngồi dậy với cơn sốt, nên một món rượu pha chế đàng hoàng là liều thuốc thiên nhiên cho mọi thứ phiền hà nhiệt đới ấy.
“Thế là bọn tôi vơ vét các thứ rượu ở New York, với mọi món phụ tùng cho quầy rượu, rồi dong buồm đi đến thành phố Santa Palma ấy. Trên đường đi tôi và Tim thấy cá chuồn bay, chơi bài với thuyền trưởng và thủy thủ, và chẳng bao lâu cảm thấy mình như là mấy ông vua vùng nhiệt đới vậy!
“Khi còn năm giờ đồng hồ là đến bờ, thuyền trưởng gọi hai đứa tôi đến. Ông bảo: ‘Tôi quên báo cho hai cậu biết là tháng rồi Nicaragua đánh 48% thuế nhập khẩu trên mọi loại hàng đóng chai. Ông Tổng thống lấy một chai thuốc dưỡng tóc vì nhầm nó là sốt ớt, thế là ông tìm cách trả thù. Hàng đóng thùng thì được miễn thuế.’
“Bọn tôi đáp: ‘ Lấy làm tiếc ông không nói sớm hơn.’ Rồi bọn tôi mua hai cái thùng rỗng từ ông thuyền trưởng, mở tất cả các chai để trút mọi thứ vào đấy với nhau. Món thuế 48% ấy sẽ làm bọn tôi vỡ nợ, nên bọn tôi đánh liều pha ra thứ cốc-tai 1.200 đô thay vì ném hết xuống biển.
“Khi lên bờ, bọn tôi mở rượu từ một trong hai cái thùng. Cái dung dịch thấy mà phát rầu! Nó có màu như là súp đậu ở khu bình dân Bowery, mùi vị cứ như là thức uống giả làm cà phê mà bà cô anh bắt anh phải uống để chữa bệnh thất tình cho anh. Tôi cho một anh da đen uống thử một ly, rồi sau đấy anh ta nằm dưới gốc dừa ba ngày với hai gót chân cứ đập trên cát mà không chịu ký giấy chứng nhận cho loại rượu của bọn tôi.
“Nhưng cái thùng kia thì thật là…! Này, anh bạn pha rượu, có bao giờ bạn đội lên đầu một chiếc mũ rơm quấn một băng vàng, bay lên trên một khinh khí cầu cùng với một em đẹp kế bên và tám triệu đô trong túi không? Ba mươi giọt trong cái thùng kia làm bạn có cảm tưởng như thế đấy! Nếu làm hai đốt thì bạn sẽ úp mặt trong hai tay mà khóc vì thấy trên đời không còn ai đáng cho bạn hạ gục ngoại trừ cái anh võ sĩ vô địch quyền Anh hạng nặng Jim Jeffries. Đúng thế, thưa ngài, cái chất trong thùng ấy là tinh hoa của chiến trận, tiền bạc và thượng lưu! Nó có màu vàng óng trong vắt như thủy tinh, sáng lòa trong đêm như thể ánh nắng vẫn còn trong đấy. Một nghìn năm sau bạn mới có thể uống loại rượu này trong quán.
“Thế nên, bọn tôi làm ăn chỉ với một thứ rượu ấy, như vậy cũng đủ. Dân bản xứ kéo đến như ong. Nếu cái thùng còn rượu, xứ sở ấy sẽ trở thành vĩ đại nhất thế giới. Mỗi sáng khi bọn tôi mở cửa hàng là đã thấy các ngài tướng và mấy ông tá và cựu tổng thống và quân cách mạng đứng sắp hàng dài cả khu phố để chờ. Bọn tôi bắt đầu với nửa đô la một cốc nhỏ. Mười gallon còn lại lên đến 5 đô một ngụm mà vẫn bán vèo vèo. Cái món này thật là tuyệt vời. Nó tạo cho đàn ông can đảm và tham vọng và liều lĩnh để làm bất cứ chuyện gì; cùng lúc anh ta không màng tiền anh ta từ đâu đến. Khi thùng rượu ấy còn phân nửa, Nicaragua tuyên bố không công nhận tiền nợ quốc gia, bãi bỏ thuế đánh trên thuốc lá và gần như tuyên chiến với Mỹ và Anh.
“Bọn tôi đã do tình cờ mà khám phá ra vua rượu của các loại rượu, và nếu may mắn bọn tôi sẽ khám phá ra lần nữa. Bọn tôi đã ra sức trong mười tháng nay rồi. Mỗi lần một ít, bọn tôi đã pha hàng mấy thùng từ mọi thức uống nguy hiểm mà dân bợm nốc vào. Bạn có thể chất đầy mười quán rượu với bao nhiêu thứ bọn tôi đã đổ đi: whisky, cognac, rượu bổ, rượu đắng, gin, rượu vang. Một món rượu vẻ vang như thế mà thế giới lại không được uống! Thật là buồn và phí tiền quá! Nước Mỹ sẽ chào đón loại rượu như thế, và trả mọi giá.”
Trong khi ấy, McQuirk vẫn cẩn thận đo lường và pha chế từng lượng nhỏ theo công thức mới nhất. Hỗn hợp cuối cùng có màu chocolate lợn cợn, gớm ghiếc. McQuirk nếm thử, rồi đổ xuống cống, với mọi ngôn từ ta thán thích hợp.
Con nói:
- Câu chuyện nghe kỳ lạ, nếu quả có thật. Tôi đi ăn đây.
Riley nói:
- Làm một hớp đi. Bạn tôi có đủ thứ, ngoại trừ cái công thức thất lạc.
- Tôi không bao giờ uống thứ gì mạnh hơn nước. Tôi vừa gặp cô Katherine ở chân cầu thang. Cô ấy nói một câu rất đúng: “Không có thứ gì tốt hơn một tí nước”.
Khi Con đã đi ra ngoài, Riley tống một quả đấm vào lưng McQuirk khiến anh này gần nằm dài. Anh la toáng lên:
- Mày có nghe không? Bọn mình là hai thằng ngốc. Sáu chai nước khoáng bọn mình chở theo tàu đấy… chính mày mở… mày rót vào thùng nào… thùng nào hở thằng đần độn?
McQuirk đáp chậm rãi:
- Có thể tao… đấy là cái thùng thứ hai mình đang mở ra. Tao nhớ cái nhãn giấy màu xanh dán trên đấy.
- Bọn mình tìm ra rồi! Đấy là thứ mình thiếu. Đấy là thứ nước gây công hiệu. Nhanh lên, anh bạn, đi ra cái quầy lấy hai chai nước suối, trong khi tao tính toán phân lượng.
Một giờ đồng hồ sau, Con thả bộ về hướng quán Kenealy’s. Một xe cảnh sát tuần tiễu đỗ ở cửa bên. Ba ông cảnh sát đang nửa khiêng nửa xô đẩy Riley và Quirk lên các bậc cầu thang phía sau. Mặt mũi mỗi anh đều mang những vết cắt và trầy sướt do một cuộc xung đột đẫm máu và dằng dai. Tuy thế, họ vẫn kêu gào với cả khoái trá, hướng mọi điên cuồng yếu ớt còn sót lại vào cảnh sát.
Ông Kenealy giải thích với Con:
- Họ đấm đá nhau trong căn phòng sau. Và còn hát hò, thế mới khổ hơn! Đập đổ tan tành mọi thứ. Nhưng họ hiền. Họ sẽ đền bù cho mọi thứ. Đang cố khám phá món cốc-tai gì đó. Tôi nghĩ sáng mai họ sẽ đâu vào đấy.
Con đi vào trong căn phòng sau để quan sát cảnh chiến trường. Anh đi qua hành lang vừa lúc cô Katherine bước xuống thang lầu.
- Chào ông Lantry lần nữa. Có tin thời tiết gì thêm không?
- Vẫn còn m-mưa.
Rồi anh đi lướt qua, đôi gò má vốn hay tái đã trở nên đỏ rần.
Đúng là Riley và Quirk đã gây một trận chiến vĩ đại và thân thiện. Chai lọ và thủy tinh đổ vỡ ngổn ngang khắp cùng. Căn phòng sực nức mùi rượu; từng vũng rượu loại này loại nọ tung tóe trên sàn.
Trên mặt bàn là một chiếc lọ đo lường bằng thủy tinh. Dưới đáy là khoảng hai thìa chất lỏng – một loại chất lỏng vàng ánh như thể nhốt ánh mặt trời trong đấy.
Con ngửi nó. Anh nếm nó. Anh uống nó.
Khi anh trở ra qua hành lang, vừa lúc cô Katherine đang định đi lên cầu thang. Cô hỏi với giọng cười trêu cợt:
- Ông Lantry, chưa có tin tức gì thêm à?
Con nâng cô lên hẳn khỏi mặt sàn và giữ cô như thế.
- Có tin là chúng ta sẽ cưới nhau.
- Ông buông tôi xuống, nêu không tôi sẽ… ấy ấy… ấy này, do đâu mà anh có can đảm để nói như thế.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|