Bún bò Huế
Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống
của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu
Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà
trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi
mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng
nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn
Lân dịch)
Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có
tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt
thướt như mái tóc mây dài chấm gót:
Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành,
Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa
những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu
mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn”
như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng
nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế
thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu
như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và
vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh
thâu le lói ở phương nào. Tô bún bò Huế
cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong
truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai
tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế
đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngủ vị hương để chuyên trị
như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hưong vị “rất
Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng
buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng
thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là “mình cảm
thấy...” mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích
các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa...
Bún Bò Huế. Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản
của bò, giống miền Nam Mỹ Texas. Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó
như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham
vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái
“phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian,
tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và
cái linh của hoàn cảnh Bà Bún.
Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có
“Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên...” là đẹp nhất. Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt
đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày 19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi
coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.
Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và
ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân
Cù.
Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng
giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô
queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị
lên đường bói quẻ đầu năm.. Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và
thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy
theo.
Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt
trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng
Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy
lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi
“giêng hai cắn tay không ra máu!”. Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật
về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là
do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái
bụng đã trống trơn.
Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói
đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không
có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và,
nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân
Cù. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con
sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào. Vân Cù cách Huế chừng 10 cây
số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò
bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào
đến Quảng Nam,
Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò
bún trong nhà.
Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ
Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng
Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề
Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh... nghề Làm Bún ở
làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn
vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua
đời khác. Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ,
nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước
nổi.
Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là
Bà Bún. Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng
còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về
cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:
Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài
theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định
cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau nầy có tên là làng Cổ Tháp,
thuộc huyên Hương Điền. Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt
lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền... nên rất được nhiều người mến chuộng.
Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ
nầy miệt mài chuyên nghề làm bún. Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm
cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại... Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân
trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm. Người
ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp
cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô
Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà
xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận. Hội Đồng
Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị
trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.
Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng
ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong
làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng
đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ
năm là vùng đất mới của Cô Bún. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo
sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên
vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún
lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của
đất nước và dân tộc.
Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông
Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái
dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về dất
nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa
thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.
Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một
cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu , chảo lớn, rây bột, khuôn
bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường
sản xuất.
Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần
đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao
động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo
trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành
bột. Tiếp theo, bột gạo được “rây” để
lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi
để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ,
rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô),
trộn với 2 ki-lô bột lọc. Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn
rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa đai, vừa đẻo” là đuợc. Giai
đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức
ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi
nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng
để ăn.
Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất
là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún
mớ.
Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài
vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm
bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường. Chỉ
cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường
về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang... có thể tay
cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon
miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc.
Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái
bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên
vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá
thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô. Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị
đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất
hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi
chác trên thị trường.
Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà
đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ
“bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được
luộc chín từ bún khô. Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai
hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8
inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún.
Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn
sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành
bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ
khuôn xuống thấp. Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và
bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún
con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên
láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”. Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói
chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong
nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún
riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc... Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào
Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành
bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo
khác nhau: Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún
măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò... và bún bò giò heo. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng
và phổ biến nhất.
Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi
chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị... đã hoàn toàn biến
đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long
lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác
nhau trong cung đình và ngoài phố chợ. Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ
cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia
có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng
đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô
bún Huế Texas. Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở
làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm
quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An
Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. “Ôn
Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc
trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa
như tự hào, nửa như ân năn:
. Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm
thượng, dám ăn đồ ăn của vua! Ai cũng biết
thuo trước, ông là người hầu cận thân
tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam
qua đến Pháp. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:
·
Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học.
Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người.
Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu
đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya. Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập
nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng
đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được! Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung,
trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm
của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò
Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất. Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn
đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công
Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ
Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy LýVương,
hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời. Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các
người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng
lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh... tìm đến và cũng được các
ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi. Hàng năm
đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều
để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất
là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán. Đây là phiên chợ
của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên
hạ đến vui Xuân. Theo tương truyền,
trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là
“Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại
khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo
chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính
chất bình dân và phổ thông trong bá tính: Mọi người ai cũng biết được, ai cũng
ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai
cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính
truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước. Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung
niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở
Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, “bún bò
Mụ Rớt”. “Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung
quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”. Một lần nào đó đã có người tò mò lên
tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua
rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”. Hoa tay? Hoa tay của ông
đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa
tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà
nghe”. Chừ ri hỉ...!
Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.
Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không
biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa
chứ... Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc. Nắng xế
cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai
đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi
Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu
pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một
cách tội tình. Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang “mả ông trạng” sau lưng
chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ
Rớt. Huế làm ăn theo lối “hữu xạ tự nhiên hương”, không bảng hiệu, không quảng
cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.
Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò.
Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó
một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:
·
Mấy o, mấy cậu thời bún chi?
Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:
·
Dạ, cho mấy tô bún nước
Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa
ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy
nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.
Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh
lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè
ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên
miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu
đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo
búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da
mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và
mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che
mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ
thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.
Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt
tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau
thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng
nàn hương vị. Rau hành của bún không
phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một
góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của
ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị
giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt
tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng “gia vị bún bò bắc đẩu”, nhìn
thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng
nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa
bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường
có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!
Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần
nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của
giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen...
là những biểu hiện thường tình trước tô bún.
Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái
chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt
luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm... đã biến chất, đã quyện vào
nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo
thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như
đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt
trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi
trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa
thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi.
Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn
hết tô chưa gác đũa.
Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế
là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế
ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then
gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày
trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn
mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét
mỹ miều hay thô thiển của thân hình.. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún
“hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh
rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu
Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu. Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún
là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ... Phần
khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ
màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường
dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản
khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách
vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình
độ cao thấp của “tay nghề”. Bún sợi thật
sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải. Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò
có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm
nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên
thủy. Thịt bò trong tô bún là bò bắp
luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa
làm “bò teo, heo nở”.
Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước
mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc
và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn. Dầu sả
nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ
nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm,
vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ
làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá.
Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc
quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn
lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm
đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam. Ruốc nêm
thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc
nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô
bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.
Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một
vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún
Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với
cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt. Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn
lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt
sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô
bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.
Ngoài ra, rau hành, gia vị... thường được các bà Huế
nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân
lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy
“Disco” với soong chảo, một bà Nam
nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn... mới
thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như
đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần
kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế
trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong
mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.
Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có
vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã
truyền thống của tô bún bò Huế. Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm
thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu. Bún Huế chỉ cần
vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác:
Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn.
Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống,
giá sống, thịt chả ê hề. Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún
bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng
tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó. Đến nỗi, một người
thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên
tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”:
“Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!”
(Việt IX - 95). Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế.
Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như
người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông. Cũng có người
muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn
truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ,
Kentucky Chicken Fried của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu... đi đâu cũng nghe cùng một
hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia
“mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một
phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn
đó thì ngại gì tô bún đổi thay.
Những huyền thoại quanh tô Bún Bò Huế
Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê
hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay
xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy
tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học.
Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi
thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng
đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong
hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh Tuy
không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học
đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã,
đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa
Thiên chỉ có thành phố Huế mới có. Mẹ tôi thường nhắn gởi: “ Chuyến ni mà con
thi đậu “càng cua”, cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”. Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi
“càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám)
nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô
Hồ. Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm.. Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói
và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt
hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:
·
O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp
thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi
huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương
nước mắm bỏ riêng... Người bán bún chừng
như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi
bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân,
đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá
cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô
vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt”
được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.
Một lát sau o mới hỏi:
·
Ai ăn rứa?
Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:
·
Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”.
Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:
·
Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không
nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp
giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi! Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”...
bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:
·
May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa!
Múc ngoéo vô đi o!
Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó
ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.
Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt.. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới,
nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá,
rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào. Bún tươi chấm với
nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một
năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong
tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi. Nay được ăn tô bún
Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu
nghệ... làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành
phố.
Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi
hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích
khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ
gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng. Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi
nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với
chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi
đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang.
Mẹ tôi hối:
·
Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!
Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún
chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:
·
Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng
cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ
nó truột di thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì
không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cử nên thi
trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi
muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.
Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn
là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là
mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển
và có hai trăm trúng tuyển năm đó.
Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ
tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội
gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:
·
Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới
thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp
hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt. Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng
Rô, thằng Lúi... suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà
đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải
hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm
Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh... Thế nhưng nghỉ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có
một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng
chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.
Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún
mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau,
khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc
ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn,
đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp
trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn
bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ
không dám nói ra vì sợ bị chọc quê. Thật ra,
mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ
đến quặn lòng, nên tôi cử ăn bún để được cái
cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình
đang có mẹ thật gần
Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế
càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh
như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ
Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ. Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại
Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và
Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh
chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”. Sinh viên hai trường
Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu
xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò
và cà phê. Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng,
ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu
đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.
Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo
nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ
đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là “Đường Cơm Hến” và đường từ cầu An Cựu
lên cầu Trường Tiền là “Đại Lộ Bún Bò” vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên
con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố
Huế. Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm:
Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ... Cũng
may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường
tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường
Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.
Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh
học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng.. Tôi đã ưu
tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng
xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió
mà quấn vào trong giây “sên”, trong “ổ líp”. Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy
gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt,
can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia
vọng tộc. Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ
Nương đi xe đạp mất rồi. ễ làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm
những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị
Chắt, Lê Thị Dẹp... đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.
Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song
song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và
tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu
bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự
nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô
duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao
lần. Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm
long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé
mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu
chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như
ngại hàng long não đứng nghe..
Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:
·
Ngó dữ chưa tề, dị chết!
Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:
·
Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!
Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn
mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:
·
Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò
ớn phát sợ luôn. Cái “ớn phát sợ” của
Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn
lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên
mặt, nêm thêm một “múi đũa” ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà
học một nhớ mười. So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén
cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi
học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên
trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò:
Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò
giò heo!
Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng
sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo
của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng
“thương con đường đi học”.. Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi
cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông
hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần
đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long. Chúng tôi đã phạm vào hai điều
tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần
đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần
kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn. Tình
cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người. Còn
ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng
theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn,
cho nên mới “xui” về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng
Khánh, chuyển qua Jeanne d’Arc để chuẩn bị đi Tây.
Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những
cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng
gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt
nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn
nót ở trang đầu: “Partir, c’est mourir un peu!... Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao
bây giờ?!”. Tôi là học trò ban B (Toán - Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào
cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ
Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác
nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra
dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng.
Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ
tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc.
Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách
của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng: “Somebody loves you than
you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình
ai.. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn
hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa
hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.
Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật
kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc
như một người tình trong chuyện thần thoại;Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc
thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:
Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương Nắng trong
suốt lọc qua hai hàng long não Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão Con
đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ...
Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên
đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương
quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự
nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi
như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.
Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên
“những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của
định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn,
Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm
ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh “thương bắt chết” vẫn tô điểm
cho nụ cười duyên dáng ngày xưa. Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng
vì món “bún bò Huế chính gốc”. Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo.
Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu
Huế:
·
Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!
Tôi cười cười nhắc lại:
·
Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa
không?
Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư “nhắc làm chi
sương khói thuở xa xăm” và ánh lên màu kỷ niệm:
·
Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!
Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc
loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng
trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:
·
Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!
Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò
cả ngố:
·
Thơ của ai rứa Hoàng?
Hoàng trả lời “mần đày”:
·
Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!
Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng
phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua
đêm.
Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi
lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của
mình.
Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ,
bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật... Miếng ăn
có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau
trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt
đèo Hải Vân vô Nam,
vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ. Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc
trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương
nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà
hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng
dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.