|
(Thanh Hoá – Hà Nội – Sài Gòn, 1954)
Tiếng loa phóng thanh vang dậy khắp nơi :
- Quân ta đã toàn thắng ở mặt trận Điện-Biên-Phủ. Thực dân đã bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị, và ký kết hoà ước Genève, công nhận nền độc lập của tổ quốc chúng ta.
Trong vùng Huyên ở, dân chúng được lịnh đi biểu tình, mừng chiến thắng Điện-Biên-Phủ. Ty-Thôn được chứng kiến cảnh giải tù binh, trên con đường cái trước mặt nhà Huyên chạy ra tỉnh. Những người lính Pháp mặt mũi râu ria, hốc hác, cởi trần, mặc quần đùi, bị xích vào nhau, lòng khòng bước đi trên đường đầy sỏi đá. Vẻ mặt họ bình thản, chịu đựng. Cặp mắt trong xanh, sâu hoắm, nhìn ra trước mặt, như đang hướng về tổ quốc xa xăm của họ. Họ đi qua, trong một không khí yên lặng tuyệt đối, trông chẳng khác gì một mẩu phim câm. Lại có những sư đoàn bộ đội Việt Minh từ mặt trận kéo về, nghỉ tại Ty-Thôn vài ngày. Đôi khi họ đóng quân ngay trong cái sân rộng bát ngát của nhà Huyên. Trong thời gian này, đoàn văn công của sư đoàn tổ chức đêm liên hoan với dân chúng ở đây. Sân khấu dựng lên trong sân đá bóng. Họ đến từng nhà kêu gọi sự đóng góp của thanh, thiếu niên, vào các màn trình diễn. Do sự giới thiệu của nhà trường, Huyên và Liên cũng được mời tham gia văn nghệ. Quế không bằng lòng, nhưng chẳng dám phản đối. Đám văn công gồm nhiều thành phần trí thức ưu tú. Đa số có thực tài về nghệ thuật trình diễn. Chỉ một cây khẩu cầm, hoặc một cái đàn banjo alto, người nghệ sĩ có thể làm cho cả một toán quân phấn khởi, hăng hái, quên nhọc mệt. Những bài hát tươi vui, những vở hài kịch ngộ nghĩnh, các bài đồng ca, hợp ca, phát biểu mối hy vọng tương lai, làm cho bộ đội và nhân dân trở nên thân thiện. Các buổi văn nghệ còn đượm mầu lãng mạn trong hậu phương từ cuối năm 1953, cho đến năm 1954, là những hình ảnh mâu thuẫn với các cuộc đấu tố sặc mùi cách mạng vô sản, đang diễn ra hàng ngày. Tuy nhiên, hoặc nhờ linh tính, hoặc do thức thời, một số gia đình, trong đó có nhà bà giáo Khiêm, ngấm ngầm chuẩn bị rời hậu phương đi vào vùng "tề", bất cứ khi nào hoàn cảnh cho phép. Bên ngoài, họ vẫn sống hoà mình với lề luật mới của cách mạng vô sản. Đó là trò chơi cân não, giữa tầng lớp gọi là bảo thủ, tức là những người địa chủ tư bản không thích chính sách cách mạng của Việt-Minh, với tầng lớp gọi là tiến bộ, tức là những người nông dân vô sản say mê kiểu cách mạng này.
Sau ngày lễ Tuyên Dương Độc Lập mùng hai tháng chín, gia đình Huyên đi vào giai đoạn cuối cùng của việc tổ chức di cư. Bà giáo, Liên, Ngọc, và Tâm, đã chuyển lên cửa hàng trên tỉnh. Ở Ty-Thôn, chỉ còn hai anh em Đông và Huyên, và một chị người làm. Đông giả vờ làm vườn, trồng thuốc lá, tưới cây. Huyên quán xuyến tất cả các việc quan trọng trong nhà. Một buổi trưa, sau khi ăn cơm xong, Huyên gọi chị người làm lên nhà giữa. Đưa tiền và mấy thước vải cho chị ta, Huyên ngọt ngào nói :
- Nhà chúng tôi thuộc thành phần địa chủ, đã bị phạt hơn một trăm tạ lúa, tịch thu gần hết ruộng đất. Tiền bạc trong nhà hết sạch, nên không thể mượn chị được nữa. Chị hãy cầm nửa năm tiền lương và vải may quần áo, đi tìm chỗ khác làm ăn.
Chị người làm khóc mếu, không chịu cầm tiền và vải. Chị năn nỉ Huyên :
- Thôi, cô cho em ở lại làm, chỉ cho ăn, chứ không cần trả lương.
Huyên vẫn dịu dàng nói :
- Cám ơn chị. Chúng tôi cũng tiếc chị lắm. Nhưng giữ chị lại, chúng tôi sẽ bị phiền phức với cán bộ và tự vệ. Chị thông cảm cho, cầm tiền và vải đi.
Chị người làm nghe nói đến "cán bộ, tự vệ ", vội vàng nhận tiền và vải. Chị trở vào nhà trong, lấy quần áo bỏ vào làn, xách trên tay, trở lại, cúi đầu chào Huyên, rồi sụt sùi, đi ra khỏi nhà. Huyên đóng chặt các cửa, ra sau bếp, đẩy chum gạo nếp sang một bên, rồi lấy dao đào đất. Nàng móc lên một hũ sành khá to nắp được gắn kín. Nàng lấy dao cậy, mở nắp ra, lấy tiền Đông dương và vàng lá xếp thành từng phần nhỏ trên mặt đất. Nàng cho dần vàng và tiền vào các bao ruột tượng, buộc chặt hai đầu, rồi mang cất dưới đáy tủ áo trong phòng riêng của nàng. Ngọc từ trên tỉnh, cách Ty-Thôn hai mươi cây số, đi bộ về tới nhà lúc sáu giờ chiều. Lúc đó, Ngọc mới hơn chín tuổi. Sáng sớm hôm sau, Huyên kéo Ngọc vào phòng của nàng, đóng cửa, lấy một bao ruột tượng đựng tiền và vàng, buộc cẩn thận vào bụng Ngọc, bên ngoài mặc áo cánh nâu rộng phủ lên. Cho Ngọc ăn uống xong, nàng bảo em gái :
- Ngọc giả vờ đi chơi, cứ theo đường cũ mà lên cửa hiệu ở phố Rừng-Thông bên kia tỉnh, đưa cho mẹ bao ruột tượng này. Chiều mai, em lại về đây nhé.
Ngọc ngoan ngoãn gật đầu, rồi lẳng lặng ra đường. Cứ như vậy, vàng và tiền Đông dương được chuyển lên tỉnh nhẹ nhàng, êm thấm. Trong khi đó, hai anh em Đông và Huyên lợi dụng đêm tối, mang chăn bông, mâm đồng, lư hương, lẻn qua hàng rào, sang gửi chú Hoà, lấy cớ sắp sửa lên tỉnh ăn giỗ bố. Chờ lúc cán bộ, tự vệ bận tổ chức liên hoan, Huyên đến trụ sở xin phép cho hai anh em lên tỉnh. Người cán bộ ngồi trực cao giọng hỏi :
- Lý do gì hai anh em cô xin lên tỉnh ? Vắng mặt bao nhiêu lâu ?
Huyên tươi cười nói :
- Mẹ và các em tôi bận bán hàng trên tỉnh, nên phải làm giỗ bố tôi trên ấy. Chúng tôi chỉ xin đi ba ngày, mười bẩy, mười tám, mười chín. Một ngày đi, một ngày ở, một ngày về. Nhà phải gửi ông chú, nên không đi lâu được.
Người cán bộ nghe xuôi tai, bèn viết giấy, đóng dấu, đưa cho Huyên, căn dặn sáng ngày hai mươi tháng chín, hai anh em phải đến trụ sở trình diện. Huyên gật đầu, cám ơn, đi về. Chiều ngày mười sáu tháng chín năm 1954, trong khi Đông hì hục phá hoại ngầm tất cả những chum, vại đựng nước mắm, tương, cá khô, tôm he, thuốc lá, bằng cách đổ nước lã vào, rồi đậy nắp lại, Huyên vào phòng riêng xếp dọn. Nàng để các nữ trang và một ít tiền Đông Dương còn lại trong bao ruột tượng, quấn quanh bụng. Bên ngoài, nàng mặc áo cánh nâu có hai túi, trong để khăn tay, giấy tờ và tiền Hồ. Cổ tay trái nàng đeo đồng hồ nhỏ. Nàng cặp tóc bằng chiếc kẹp sừng, mà nàng không nhớ ai đã tặng. Nàng mở tủ áo, treo áo dài, áo lạnh, khăn quàng cho thứ tự, gấp quần áo gọn gàng. Nàng xếp vào hộp gỗ các đồ dùng lặt vặt, cùng lược cong cài đầu và khăn tay thêu chữ "H". Nàng thu sách vở, bút, thước, vào trong cặp da, đóng lại cẩn thận. Những vật kỷ niệm đó được để hết lại trong chiếc tủ, đã ở trong phòng này, từ khi nàng còn bé.
Ăn cơm tối xong, trước sáu giờ chiều, Đông và Huyên mặc quần áo nâu sậm, đi dép caoutchouc, chuẩn bị lên đường ngay. Hai anh em lén lút đi sớm một đêm, cho kịp hẹn với gia đình trên tỉnh. Huyên đứng chờ anh ở vườn sau. Nàng giơ tay vẫy con mèo mướp đang ngồi trên chạc cây mơ. Đông khoá chặt cửa bên trong, đi xuống cửa sau, khoá xích bên ngoài, mang chìa khoá gửi ông chú ở bên cạnh. Hai anh em ra đi tay không. Con chó Vện chạy theo vài cây số, bị Đông đuổi trở lại. Nó ngồi xuống, nhìn theo. Hai người đi trên con đường cái dẫn ra tỉnh. Tự vệ gọi lại hỏi, rồi cho hai người đi dễ dàng, không để ý đến ngày khởi hành ghi trong giấy. Huyên và anh lầm lũi đi bên nhau. Được mười cây số, họ bỏ đường cái, rẽ tay trái, đi lên con đường đê. Sau hơn ba giờ đồng hồ, họ vào đường ruộng, đi tắt qua hai cái làng cho gần. Hai anh em lặng lẽ lần bước trong bóng tối lờ mờ, trên con đường vắng tanh, hun hút. Hơi lạnh bốc lên, nhưng may trời không mưa. Đi theo con đường vòng phía trên tỉnh, để vào khu phố Rừng-Thông ở ngoại ô bên kia tỉnh, họ tới cửa hiệu của nhà lúc gần mười hai rưỡi đêm. Bà giáo Khiêm đi họp bạn hàng về từ lúc mười hai giờ khuya. Chưa thấy Đông và Huyên, bà sốt ruột, đứng trong cửa nhìn ra. Thấy hai người con, bà giáo mừng chảy nước mắt. Bà kéo hai người vào nhà, đóng cửa lại, bảo họ rửa mặt mũi chân tay. Trong khi đó, bà hâm nước dùng đổ lên hai bát phở mua sẵn. Hai anh em ăn phở xong, tráng miệng bằng bánh ngọt. Liên, Ngọc, Tâm ngủ say trong phòng bên. Ba mẹ con ngoài này cũng tắt đèn, chia nhau mỗi người một giường, bỏ màn xuống ngủ.
Bốn giờ sáng, cả nhà dậy, nai nịt tiền bạc vào người. Mỗi người mặc hai bộ quần áo, trong tay không cầm một thứ hành lý nào cả. Họ đóng cửa hiệu, sang bên cạnh ăn phở, gửi nhà cho ông bà chủ hiệu phở, nói là về quê ăn giỗ. Họ theo nhau đi ra bến canot. Người này nhìn người kia mà đi, cách xa nhau từng quãng ngắn. Huy còn phải ở lại dạy học, chưa đi được. Anh về để đèo Ngọc và Tâm trên xe đạp, ra bến canot, rồi trở lại Yên Mô. Đông phải giả làm người buôn gà, gánh hai lồng, mỗi lồng nhốt ba, bốn con gà. Họ ra đến bến canot, dưới chân cầu Hàm-Rồng, lúc trời tờ mờ sáng. Trong hàng quán, chỗ nào cũng có người ngồi chờ. Đó là những người hồi cư, hoặc đi buôn, có đủ giấy tờ. Bà giáo ra hiệu cho các con tụ lại một chỗ. Bà nói khẽ cho các con đủ nghe :
- Nhà mình không có giấy hồi cư, nên mẹ phải mua vé chợ đen, đắt gấp năm lần vé thường.
Bà kín đáo phát cho mỗi người một cái vé, rồi ra hiệu cho tất cả theo bà xuống gần chiếc canot, có sức chở khoảng hai trăm người. Ở đó, hành khách đã tụ tập đông nghịt, đằng trước cái cầu ván, rộng bằng mặt cái bàn nhỏ, một đầu xích vào hai cột ciment trên bờ sông, đầu kia gác lên mũi canot. Trên mặt cầu, có gắn những khấc gỗ ngang, cho khỏi bị trượt chân. Khoảng bẩy giờ sáng, theo lịnh chủ, anh soát vé ra hiệu cho mọi người lên canot. Từng người bước lên cầu ván, đưa vé cho anh kiểm soát. Tầu gần đầy người, mà hành khách hãy còn nhiều. Bà giáo, Huyên, Liên, Ngọc, Tâm, lên gần cuối cùng. Đông đứng dưới đất, sau bốn năm người. Đến lượt Đông, anh bỏ gánh gà, bước lên cầu ván. Người soát vé vung tréo hai cánh tay, chặn lại, quát to :
- Hết chỗ rồi ! Đi xuống ! Chờ chuyến sau !
Bẩy tám người dưới đất nhao nhao phản đối, tay cầm vé phất lên rối rít :
- Bán vé rồi, là phải cho lên hết chứ !
Đông tiến lên. Người xoát vé lại quát to, một tay đẩy mạnh ngực Đông :
- Hết chỗ ! Xuống đi !
Đông nổi giận, vung tay, bớp cho hắn ta một cái vào mang tai. Hắn ôm đầu kêu lên, hai chân loạng choạng, ngã ùm xuống nước. Đông nhẩy vọt qua cầu, len nhanh vào đám đông dưới thuyền, trốn mất. Đám người còn lại chạy hết lên thuyền. Chiếc canot lùi ra một tí, cái cầu rơi xuống mặt sông. Nước bắn tung toé, nhưng chiếc cầu không trôi đi được. Anh soát vé bơi lại gần canot, nắm dây, đánh đu lên. Người anh ướt sũng. Anh vừa vuốt mặt, vừa lầu nhầu chửi rủa. Thấy hành khách quay đi, nói chuyện ồn ào với nhau, anh nhổ nước bọt xuống sông, trèo lên buồng máy.
Đông chờ một lúc lâu, mới ngồi dậy từ sau lưng mấy bà gìa, gần giữa canot, chỗ ít ánh sáng. Huyên và gia đình ngồi bên trong mui, gần đầu canot, quay lưng ra ngoài ánh sáng, cách Đông vài thước. Đang nhìn về phía Đông, Huyên bỗng giật mình. Ở cuối canot, bên ngoài mui, dưới ánh sáng bình minh, một nhóm cán bộ đang ngồi với nhau. Trong số, có nhiều người thuộc thành phần Toà Án Nhân Dân xét xử bà giáo độ nọ ! Nhờ ngồi ở thế phản ánh sáng, Huyên và mẹ không bị họ nhìn thấy. Huyên run run nói thầm với mẹ :
- Mẹ ! Mấy người cán bộ đấu tố mẹ đang ngồi ở đầu đằng kia.
Bà giáo vội lấy khăn trùm đầu, gục xuống, giả vờ ngủ. Huyên cũng cúi xuống giấu mặt trong hai đầu gối, thỉnh thoảng liếc về phía các cán bộ, xem động tĩnh. Canot chở nặng, không chạy nhanh được. Nước mấp mé bên ngoài cửa sổ. Người chủ tầu nói to cho mọi người nghe thấy :
- Yêu cầu mọi người, đâu ngồi yên đó ! Đừng đi lại, tầu tròng trành, khó lái và nguy hiểm lắm !
Có tiếng đàn bà xì xào cầu Chúa, niệm Phật. Canot chạy êm ả. Mọi người nhắm mắt ngủ gật. Chợt có tiếng quát :
- Nắm chặt lấy tay lái ! Đi sát vào gần bờ !
Mấy hành khách đàn ông hỏi to :
- Cái gì thế ? Cái gì thế ?
- Ngã Ba Bông ! Ngã Ba Bông !
- Ngồi yên ! Ngồi yên !
Ngã Ba Bông là cửa biển, ở giữa con đường từ bến Hàm-Rồng đến bờ sông Nam-Định, nổi tiếng nguy hiểm. Ở đó có xoáy nước rất mạnh. Nhiều tầu, thuyền đã bị cuốn vào giữa xoáy, chìm xuống dưới biển mất tích. Không bao giờ tìm được xác người. Thấy phao nổi, báo hiệu chỗ nguy hiểm, người lái tầu hết sức cẩn thận, trổ hết tài lái tầu. Nhưng chỉ nhích sang bên phải một tí, chiếc canot lập tức bị hút vào vòng ngoài xoáy nước. Người lái tầu quay hết bánh lái vào trong. Chiếc canot rướn lên, nghiêng sang phải, như sắp lộn. Nước tràn qua thành cửa sổ. Mọi người hoảng sợ hét thất thanh.
Người chủ thuyền quát to :
- Ngồi yên ! Ngồi yên !
Con tầu trở lại được vị trí cũ. Nước không tràn vào nữa. Một số hành khách bị ướt lưng, nhưng không dám cựa cậy. Tiếng đọc kinh cầu xin Chúa và Mẹ Maria, cùng tiếng niệm Phật vang lên, run run, đứt nghẹn từng quãng. Mẹ con bà giáo Khiêm ôm chặt lấy nhau, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Huyên cảm động, khẽ kêu :
- Lạy Chúa Jésus và Mẹ Maria, xin cứu chúng con !
Con tầu vẫn chưa thoát khỏi sức hút của xoáy nước, nghiêng sang bên phải một lần nữa. Nước lại tràn qua cửa sổ. Hàng người bên trái của con tầu hơi chúi sang bên phải. Tiếng người kêu lao nhao, hốt hoảng. Bà giáo run giọng :
- Các con ôm chặt lấy mẹ. Có gì thì cùng chết với nhau.
Tâm ngơ ngác. Liên và Ngọc mếu máo. Huyên lấy hết can đảm cho khỏi khóc, miệng nói thành tiếng :
- Jésus ! Maria ! Joseph ! Xin cứu chúng con !
Con tầu nghiêng trở lại, mũi quay hẳn về bên trái, lướt nhẹ trên mặt nước. Tiếng người lái tầu reo lên :
- Thoát rồi !
Chiếc canot từ từ chạy vào con sông nhỏ, gần cửa biển, có cây cỏ um tùm. Theo con sông này, tầu chạy vòng vèo, thật xa. Phải mất một ngày, tầu mới tới thành phố Nam-Định. Nếu đi xe ca chỉ mất ba giờ, là đến nơi, nhưng đường bộ hoàn toàn tê liệt. Gia đình Huyên đặt chân lên bờ sông Nam-Định, lúc hơn sáu giờ chiều, ngày mười bảy tháng chín 1954. Hết sức cẩn thận, trốn tránh cán bộ Việt-Minh, cả nhà Huyên đến một hiệu ăn. Bà giáo Khiêm đã hẹn trước và trả họ nhiều tiền, để được chứa chấp một đêm. Khi đến nơi, bà chủ hiệu vui vẻ đón tiếp, đưa mọi người vào nhà trong, nghỉ ngơi, tắm rửa, ăn uống. Đoạn, bà chủ hiệu nói :
- Nam-Định mới được Việt-Minh tiếp thu, nên mỗi đêm đều có công an đến kiểm soát. Bà và các cô cậu không có đủ giấy tờ. Khi nghe tiếng gọi cửa bên ngoài, mọi người vắt màn, gấp chăn, rồi chui hết xuống gầm giường, trong phòng riêng của tôi, ở khuất sau hành lang ngay đằng kia, cạnh bàn thờ Ông Bà. Duới gầm giường đã giải sẵn chiếu, và có mấy cái chăn, để chùm lại cho khỏi bị muỗi đốt. Nhớ giấu giầy dép đi. Nhỡ họ có đi vào trong này, cũng không thấy được bà và các cô cậu. Tôi dặn phòng xa thôi.
Cả đêm, gia đình Huyên thao thức, trừ Ngọc và Tâm được ngủ êm. Rất may, công an chỉ đến trước cửa hỏi han qua loa bà chủ, rồi đi ngay. Bốn giờ sáng, cả nhà Huyên dậy, sửa soạn, ăn uống, từ giã bà chủ. Họ ra bến xe, mua vé đi Phủ-Lý. Ông tài xế bảo bà giáo :
- Bà và các em nhỏ thì không sao. Họ chỉ xét giấy đàn ông, con trai thôi. Cậu con của bà phải giả làm "aide", ngồi trên nóc xe với thằng con tôi. Khi nào từ đằng xa, thấy công an đông quá, thì phải nằm sấp xuống, cho con tôi phủ rau lên mà trốn. Bà và cậu có bằng lòng, tôi mới dám chở.
Bà giáo gật đầu, hỏi :
- Thế còn tiền vé của con trai tôi, ông tài lấy bao nhiêu ?
Ông tài xế nói nhỏ :
- Tôi chạy đường này quen rồi. Luôn luôn phải biếu xén, mời mọc họ, tôi mới làm ăn dễ dàng được, nên cũng tốn kém lắm. Vậy xin bà trả riêng phần cậu ấy bằng số tiền vé của bà và bốn em này. Tôi lấy vậy là vừa phải đấy.
Bà giáo không nói thêm, đếm tiền đưa cho ông tài xế. Muà Thu tiết trời không còn ấm áp. Nhờ mặc hai lần quần áo, mọi người không bị lạnh lắm. Huyên trông hơi to ra, vì trong người đeo hai bao ruột tượng đựng vàng lá và tiền giấy Đông dương. Nàng để tóc che kín hai bên má, đằng sau cặp tóc trễ nửa lưng. Bà giáo cũng trùm khăn gần kín mặt, để tránh người quen. Đông lấy khăn tay rộng, buộc ngang trán, cho giống mấy người chạy xe hàng. Liên, Ngọc, Tâm đều ăn mặc quần áo mầu sẫm. Mỗi người đeo một bao ruột tượng đựng vàng và tiền. Năm mẹ con đều giả vờ ngủ mệt. Các tự vệ thấy vậy cũng không hỏi giấy. Xe đến Phủ-Lý, ông tài xế lại gần, nói với bà giáo :
- Bây giờ, tôi dẫn bà và các cô cậu, giới thiệu với người lái đò.
Trước khi xuống đò, ông tài lại nói nhỏ :
- Qua bờ sông bên kia, bà hãy trả tiền đò. Người quen cả. Bến xe đi Văn-Điển ở gần đó. Nếu gặp khó khăn khi mua vé xe, bà cứ nói là người nhà của ông tài Trung. Thôi chào bà và các cô cậu. Chúc thượng lộ bình an.
Bà giáo cám ơn ông tài Trung. Mẹ con dắt nhau xuống đò. Dưới đò, chỉ có gia đình Huyên. Người lái đò là một cô gái trạc hai mươi tuổi, trông khoẻ mạnh và có duyên. Cô vừa chèo đò, vừa hát theo điệu Cò Lả. Thỉnh thoảng cô lại nhìn Đông, chúm chím cười. Đông cũng cười lại, lấy ngón tay gõ lên thành gỗ, đánh nhịp. Huyên và các em bưng miệng cười, quên cả lo lắng, nhọc mệt. Bà giáo mải tính toán, không để ý. Đò cặp bến. Cô lái vui vẻ nói :
- Tới nơi rồi. Xin cho tiền đò.
Bà giáo trả tiền theo như hẹn trước. Mọi người bước lên bờ cỏ. Cô lái đò liếc Đông, rồi nói :
- Lần sau, mời ông anh tìm đò của em mà đi nhá. Em lấy rẻ thôi.
Đông cười khì khì, đáp lại :
- Thế nào tôi cũng tìm cô. Chào cô nhé.
Cô lái đò sung sướng, nói to :
- Chào ông anh ! Chào cả nhà !
Nói xong, cô thoắt tay chèo, cho đò quay nhanh ra giữa sông. Tiếng hát lanh lảnh của cô còn vẳng lại. Sáu mẹ con đi bộ lên đường cái. Bên kia đường là bến xe ca. Quang cảnh rất tấp nập. Bà giáo tìm một chiếc xe đi Văn-Điển, trong đã có sẵn hơn nửa số hành khách. Ông tài xế nói ngay :
- Bà cho xem giấy hồi cư, để tôi xé vé.
Bà giáo nói nhanh :
- Ông tài Trung chỉ tôi sang bên này đấy ạ. Xin ông giúp cho. Đi vội quá, giấy tờ không đủ.
Ông tài vui vẻ nói :
- Nếu là người của ông Trung gửi đến, thì dễ lắm. Chỉ xin bà cho hai lần tiền, để tôi còn xoay xở với các trạm kiểm soát. Bà và các em cứ ngồi yên, để tôi nói chuyện với họ. Riêng cậu này là khó khăn lắm. Khi nào tôi ra hiệu, cậu phải xuống xe, đi ra bờ ruộng. Cậu xắn quần lên, giả vờ là nông dân địa phương, lội vòng thật xa. Phải luôn luôn nhìn về phía đường cái, có xe chạy, mà theo. Khi nào thấy nhiều nhà gạch và cột dây điện, cậu lội vào, thì gặp ngay bến xe Văn-Điển.
Bà giáo đếm tiền, đưa cho ông tài xế. Sáu người trèo lên xe ngay. Huyên ngồi giữa hàng ghế cuối, nhận xét những người xung quanh. Đa số là dân thủ đô, ăn mặc gọn gàng, giọng nói thanh tao, cử chỉ lịch sự. Họ là những người hồi cư cuối cùng. Số hành khách còn lại, là người hậu phương tìm đường di cư. Bộ mặt họ sáng sủa nhưng mệt mỏi, lo âu. Họ ít nói, chỉ nhìn quanh quất, hoặc cúi đầu ngủ. Họ mang rất ít hành lý. Nhìn hình dáng họ sồ sề, Huyên đoán ngay, những người này cũng mang theo tiền và vàng, trốn khỏi hậu phương, tìm tự do. Mải nhìn, Huyên không thấy lúc Đông nhảy xuống xe, để lội ruộng. Trên đường đi, có rất nhiều trạm kiểm soát. Mỗi lần gặp toán công an, tự vệ Việt-Minh, ông tài xế nhảy xuống, chạy ra nói chuyện với họ. Một người đeo súng trường, đi lại nhìn vào các cửa xe. Thấy phần đông là đàn bà, trẻ con, ông gìa, bà cả, họ quay đi báo cáo cho trưởng toán. Ông tài xế được lịnh tiếp tục đi.
Gia đình Huyên đến Văn-Điển lúc gần hai giờ chiều ngày mười tám tháng chín năm 1954. Bến xe Văn-Điển rất đông đúc. Hiệu phở, quán cơm, hàng nước, hàng bánh cuốn, bún chả, chè xôi, tầu-hủ, bánh giò, mọc lên nhan nhản. Sập gỗ chợ trời che bạt san sát, bán đủ thứ : quần áo, dụng cụ, giầy dép, chăn, màn, chiếu, khăn, đồ hộp, vải dù ... Kẻ mua, người bán, dân chạy hàng xách, đổi tiền, bán vé, qua lại như mắc cửi, chuyện trò rất náo nhiệt. Ở đây, không còn bóng công an, tự vệ Việt-Minh, mà lại thấy quân đội tây ra vào từ trại lính xa xa. Năm mẹ con vào hiệu ăn phở, rồi gọi gánh tầu-hủ ăn mỗi người một chén. Bà giáo nói với ông hàng phở :
- Ông cho tôi gửi mấy cháu một chốc được không ?
Ông hàng phở tươi cười đáp :
- Được, được. Bà cứ để các cô cậu ngồi trong này. Còn nhiều chỗ lắm. Quá trưa, khách ăn vãn rồi.
Bà giáo đi tìm người đổi số tiền cụ Hồ chưa kịp tiêu thụ, để lấy tiền Đông dương. Bà mua thêm vài cái túi xách tay, và vài bộ quần áo cho mỗi người con. Bà lên bến xe đón Đông. Lâu không thấy bóng người con trai, bà về hiệu phở ngồi nghỉ. Một lúc sau, bà lại ra bến xe ngóng. Mãi tới sáu giờ chiều, Đông mới xuất hiện sau mấy hàng cây bên lề đường. Bà giáo mừng rỡ đến phát khóc. Bà đưa Đông về hiệu phở, cho ăn uống. Chờ Đông ăn uống xong, bà giáo trả tiền, cám ơn ông hàng phở, rồi sáu mẹ con mua vé xe, đi vào Hà-Nội. Từ bến xe ở bờ sông Nhị-Hà, cả nhà Huyên đi bộ theo các phố Mã-Mây, Hàng Buồm, Hàng Đào, qua bờ hồ Hoàn-Kiếm, rẽ trước mặt Khai-Trí Tiến-Đức, vào con đường dẫn tới trước Nhà Thờ Lớn. Vừa đi, bà giáo vừa chỉ đường phố cho các con. Huyên lắng nghe, ghi nhớ trong đầu. Trèo các bậc đá lên mặt sân Nhà Thờ, cả nhà Huyên đi vào bên trong vòm cửa ngồi nghỉ. Bà giáo bảo mọi người :
- Các con ngồi đây cho yên. Mẹ đi lại nhà anh Hùng, xem gia đình anh còn đấy hay không.
Khi bà giáo trở lại, đồng hồ Nhà Thờ chỉ chín giờ tối. Bà nói, giọng đầy thất vọng, nhưng vẫn rắn rỏi :
- Anh Hùng và gia đình đã vào Sài-Gòn rồi, có để lại lá thư cho người bạn còn ở lại, nhờ người này thu xếp cho nhà mình đi máy bay vào Sài-Gòn. Nhưng nhà chật, nên họ không có chỗ cho mấy mẹ con mình.
Cả nhà cùng ăn bánh mì pâté và uống nước ngọt của bà mua mang về. Ngay lúc ấy, ông coi Nhà Thờ đến gần nói :
- Sau chín giờ, tôi phải đóng cửa Nhà Thờ. Tôi cho gia đình bà mượn chăn, chiếu, để ngủ trong sân Nhà Thờ, sau hàng rào sắt kia. Tôi sẽ đóng cửa hàng rào lúc nửa đêm và mở ra lúc năm giờ rưỡi sáng.
Gia đình Huyên ôm chăn chiếu vào sân Nhà Thờ. Bên cạnh sân, Huyên thấy là một trường học mang tên Á Thánh Dũng-Lạc. Đêm thu, trăng khuyết, tiết trời lành lạnh. Sân Nhà Thờ có nhiều chân tường nhô ra, nên kín gió. Gia đình Huyên giải chiếu xuống mặt đất tráng ciment, sát chân Nhà Thờ. Cả nhà nằm đắp chăn, ngủ một giấc ngon lành. May mắn đêm hôm ấy trời không mưa. Sáng hôm sau, khi tiếng chuông Nhà Thờ đổ lúc năm giờ, chuẩn bị cho lễ Mi-sa lúc năm giờ rưỡi, cả nhà Huyên mới nhỏm dậy. Đông mang chăn chiếu trả lại cho ông coi Nhà Thờ, và cám ơn họ. Sáu mẹ con ra mấy hàng quà bên cạnh Nhà Thờ ăn sáng. Xong, để các con ngồi trong Nhà Thờ, bà giáo đi gặp người bạn của Hùng lúc chín giờ sáng, để người này dẫn đến Toà Thị Chính, xin giấy đi máy bay vào Nam cho cả nhà. Gần trưa, bà về, mang các con ra bờ hồ Hoàn-Kiếm, đi xe điện xuống Chợ Hôm ăn uống trong hàng cơm, mà trước đây Hùng đã dẫn bà tới. Ăn xong, cả nhà đi xe điện lên Toà Thị Chính. Ở đó, có phái đoàn tiếp đón rất tử tế. Lúc năm giờ chiều ngày mười chín tháng chín năm 1954, phái đoàn nhận giấy tờ của gia đình bà giáo Khiêm, cho mọi người vào ngồi chờ bên trong Toà Thị Chính. Bẩy giờ tối, nhân viên của phái đoàn tiếp tân mang những phần cơm nước cho gia đình Huyên và một số gia đình khác ăn uống. Xong, mọi người lần lượt đi tắm rửa, làm vệ sinh. Sau đó, mỗi gia đình được một phòng lớn, trong có đầy đủ giường, chiếu, chăn, màn. Ông trưởng phái đoàn dặn :
- Yêu cầu quí vị đi ngủ sớm. Hai rưỡi sáng, chúng tôi sẽ đánh thức quí vị dậy, sửa soạn chờ xe đến, chở ra phi trường.
Đúng ba giờ sáng, mấy hạ sĩ quan Pháp vào gặp phái đoàn. Họ phân chia, gọi tên từng người của các gia đình được giấy phép đi máy bay lên xe camion. Kiểm soát kỹ càng, họ chở các gia đình di cư sang phi trường Gia-Lâm. Lúc ấy, trời đổ mưa như trút nước. Xe có che bạt, nhưng vẫn bị nước bắn và gió lạnh lọt vào. Ngồi trên ghế gỗ cứng lạnh, lại bị xóc và lúc lắc mạnh, ai cũng thấy đau mình mẩy. Tuy nhiên, niềm vui mừng sắp được đến một chân trời mới, làm cho mọi người chịu đựng được nỗi vất vả này. Họ nghe tiếng động cơ xe rầm rầm, gió thổi vi vút, mưa ào ào trên bạt xe, và thấy có cảm tình với những tiếng động ấy. Bà giáo nói thầm với ba cô con gái và cậu con trai nhỏ :
- Ôm chặt lấy bụng, kẻo bao ruột tượng tuột mất !
Giọng bà bị át đi vì tiếng rầm rầm của bánh xe chạy trên cầu Long-Biên. Ra đến phi trường Gia-Lâm, mấy người lính Pháp mở cánh cửa ngang sau xe, rồi đỡ từng người xuống đất. Hai bên trao đổi mấy tiếng Pháp ngắn ngủi, nhưng đầy thiện cảm "Merci","Au revoir","Bon voyage",…
Đại diện phái đoàn dẫn các gia đình vào trong nhà của phi trường, để cân người và hành lý. Mỗi gia đình được phát thuốc phòng ngừa nôn mửa. Sau đó, nhân viên phi trường đóng dấu lên giấy phép của từng gia đình. Đoạn, mọi người lần lượt lên máy bay quân sự. Trong máy bay, hành khách ngồi xuống sàn có trải moquettes. Mỗi người phải kéo dây trên thành máy bay, buộc vào mình. Đúng năm giờ sáng, máy bay cất cánh. Lần đầu tiên thấy cảm giác được bốc mạnh lên, Huyên hơi hồi hộp. Nhờ thuốc phòng nôn mửa, mọi người không bị khó chịu, nhưng buồn ngủ vô cùng. Đông nằm xuống ngủ ngay. Bà giáo dựa lưng vào thành máy bay. Liên nằm gối đầu lên đùi mẹ. Ngọc nằm gọn trong lòng mẹ. Cả ba người cũng đều ngủ. Huyên ngồi bên cạnh, ngả đầu vào vai mẹ. Tâm gối đầu lên đùi Huyên, ngước mắt nhìn chị, ngây thơ hỏi :
- Máy bay có bao giờ rơi không, chị ?
Huyên nhìn em trai nhỏ, có khuôn mặt giống ông giáo Khiêm như đúc, nhẹ nhàng trả lời :
- Máy bay này không rơi được đâu, em ạ. Có Chúa Jésus và Đức Mẹ Maria ở với chúng ta. Em đừng lo, cứ nhắm mắt ngủ đi.
Huyên ghi nhận hình ảnh này, như một kỷ niệm khó quên trong đời nàng, bây giờ và sau này. Trong gần một tuần lễ di chuyển vất vả, Huyên không có một phút nào sống với tâm tư của riêng nàng. Bây giờ, ngồi giữa những người thân nhất đời nàng, chia bùi sẻ ngọt với nhau, nàng ôn lại những giờ phút hiểm nghèo, khó nhọc. Sáu mẹ con dắt díu nhau, vượt sông vượt biển, cưỡi mây đạp gió, bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn, đi tìm một tương lai tốt đẹp, có nhiều tự do, hạnh phúc hơn. Nàng chỉ nhớ rõ những kỷ niệm gia đình. Các chuyện khác mờ dần đi, nhường chỗ cho các hình ảnh hiện tại và tương lai, đang cuồn cuộn mở ra trước mắt Huyên. Nàng thấy háo hức lạ thường. Hình như từ phía trời Nam, một sức lôi kéo chào mời mãnh liệt, đang dẫn nàng tới một điểm hẹn chưa rõ nhưng chắc chắn. Huyên nhắm mắt, lẩm bẩm :
- Xin Chúa và Đức Mẹ hãy gìn giữ con, cho tới ngày con gặp được người mà Thượng-Đế dành cho con. Xin cho gia đình chúng con được luôn luôn bình an, đoàn kết, trong tình thương của Chúa và Đức Mẹ.
Một cảm giác nhẹ hẫng làm Huyên mở mắt ra. Đông ngồi lên, giụi mắt, nói :
- Máy bay đang xuống. Đến nơi rồi.
Mọi người bảo nhau ngồi dậy. Cảm giác nhẹ hẫng lại liên tiếp đưa tới. Một vài người phải nằm ra cho khỏi chóng mặt, buồn nôn. Tiếng bánh xe máy bay chạm kin kít lên mặt phi đạo. Động cơ gầm gừ, như cố giữ lại thân máy bay nặng nề, đang lướt trên phi đạo. Máy nổ ào lên, rồi im lặng. Mọi người chờ đợi. Cửa máy bay được mở ra. Ánh sáng chói loà uà vào, làm tất cả lấy tay che mắt. Một giọng nói lạ tai của miền Nam cất lên :
- Mời bà con đứng lên, mang hết hành lý, lần lượt đi theo tôi.
Mọi người lục tục đi ra phía cửa. Họ dừng lại trước cầu thang sắt chạy tun hút xuống dưới sân ciment. Người này dìu người kia, vịn thành cầu thang, bước chậm chạp, cho khỏi ngã. Một làn gió ấm thổi tới. Huyên nhìn đồng hồ, thấy hơn chín giờ sáng. Đây là ngày hai mươi tháng chín năm 1954. Đoàn người di cư theo nhau bước nhanh về phía dãy nhà có cửa kính. Huyên ngửng lên, trông thấy hàng chữ thật to "TÂN-SƠN-NHẤT".
Bước vào được bên trong nhà của phi trường, tất cả thở phào. Họ đi qua một căn phòng có tường cao, rộng bát ngát, sáng choang. Ở đó, nhiều đàn ông, đàn bà ngoại quốc, đeo dấu hiệu Hồng-Thập-Tự, đứng sau các dãy bàn dài. Trên bàn, bầy các loại bánh ngọt, bánh tây có nhân thịt, và rau, kẹo tây, các chai nước mầu xanh, đỏ, vàng, trắng, những tập khăn giấy. Người hướng dẫn giơ tay mời mọi người đến gần các bàn. Nhân viên Hồng-Thập-Tự tươi cười rót nước vào cốc giấy, để vào các khay nhỏ đựng bánh đủ loại, bưng mời từng người. Một số dân di cư rụt rè, không dám nhận, sợ phải trả tiền. Người hướng dẫn giải thích :
- Đây là tặng phẩm quốc tế miễn phí. Mời bà con cứ tự nhiên, ăn uống cho thiệt nhiều. Sau đây, quí vị sẽ được chở tới trại tỵ nạn. Ở đó chúng ta sẽ phải làm nhiều thủ tục.
Mọi người cố lắng tai nghe tiếng miền Nam. Nhưng họ không lĩnh hội được hoàn toàn, mà chỉ hiểu tổng quát, là nên ăn uống các thực phẩm miễn phí cho nhiều, vì còn lâu mới có cơm trưa. Tuy vậy, mỗi người chỉ cầm lấy một cái bánh nhỏ và một cốc nước, cho phải phép. Họ đã no say với không khí tự do, an toàn, ở nơi này. Họ cảm thấy nghị lực dồi dào, sẵn sàng đi tới nơi định cư, để xây dựng cuộc đời mới, càng sớm càng tốt.
Huyên cắn một miếng bánh ngọt, uống một hớp limonade. Nàng hân hoan nghĩ trong đầu :
- Hương vị của Tự Do thật là ngọt ngào, dễ chịu !
(Trích trong cuốn truyện dài "YÊU EM TỪ THUỞ…" của BÌNH HUYÊN)
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|