|
(Nobel 1905) NGUYỄN HỮU DŨNG dịch I
Một lần xảy ra chuyện người gác đèn biển ở Axpinoan - một nơi không xa Panama - bị mất tích. Chuyện đó xảy ra trong cơn bão nên người ta cho rằng có lẽ kẻ xấu số nọ đã bị sóng cuốn đi khi lần ra mép nước của đảo đá đặt tháp đèn. Điều đó càng có vẻ có lý, vì ngày hôm sau người ta không tìm thấy chiếc xuồng con mà ông ta vẫn thường xuyên buộc ở kẽm đá. Cần phải tìm ngay người thay chân gác đèn bị khuyết, bởi ngọn đèn biển nafy có ý nghĩa không nhỏ với giao thông tronh vùng cũng như đối với tàu bè chạy từ New York đến Panama. Vịnh Muỗi vốn lắm doi cát và bãi cạn, tìm luồng lạch ban ngày còn khó, huống hồ ban đêm, nhất là giữa những lớp mù thường bao phủ vùng biển nhiệt đới nơi đây. Khi ấy đối với số đông tàu bè, ngọn đèn biển trở người chỉ đường duy nhất. Mối lo tìm người gác đèn thay thế đổ xuống đàu viên lãnh xự US ở Panama, mà đó là mối lo chẳng nhỏ nhoi gì, bởi lẽ thứ nhất là phải tìm bằng được người thay thế trong vòng mộthai tiếng đồng hồ, thứ hai, người thay thế phải là người đặc biệt mẫn cán, không phải ai cũng nhận được, và sau nữa, hiện chẳng có ma nào ứng cử vào chân đấy. Cuộc sống trên tháp đèn vô cùng khắc khổ, chí ít cũng chẳng hấp dẫn gì với dân miền Nam rỗng tuyếch vốn ưa thích phiêu lãng tự do. Người gác đèn biển chẳng khác gì tù nhân. Trừ chủ nhật, anh ta không được phép rời khỏi cái đảo đá của mình. Mỗi ngày một lần, thuyền từ Axpinoan chở ra đảo lương ăn và nước uống rồi lại đi ngay, và khi ấy cái đảo đá rộng chừng một mẫu ấy không còn một bóng người nào khác. Người gác đèn sống ngay trong lòng tháp đèn và tưk lo liệu lấy. Ban ngày trông theo phong vũ biểu mà treo cờ hiệu các màu để báo thời tiết, ban đêm thì đốt đèn. Kể ra, đó cũng không phải là công việc nặng nhọc gì, nếu như không phải ngày vài lần leo lên những 400 bậc thang lên cái cầu thang trôn ốc cao ngất lên đỉnh tháp. Nói chung đó là cuộc sống như trong tu viện, mà còn tệ hơn tu viện, bởi lẽ người gác đèn chỉ có một thân một mình.
Vì vậy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ngài lãnh sự Fancônbrigiơ lo nghĩ không biết tìm đâu cho ra người gác đèn thay thế cho kẻ bạc phận, và cũng dễ hiểu niềm vui sướng của ngày khi ngay trong ngày hôm ấy tự nhiên có một người tìm đến nhận chân gác đèn. Đó là một ông lão tuổi ngoại 70, song nom vẫn quắc thước khoẻ mạnh, lưng vẫn thẳng, dáng dấp có vẻ con nhà binh. Tóc ông lão đã bạc trắng, nước da bánh mật như người Krêôn song cứ theo màu đôi mắt mà suy thì chắc chắn, ông không phải người phương Nam. Vẻ mặt ông trầm ngâm, đầy u ẩn, song trung hậu. Thoạt trông, ngài lãnh sự đã thấy hài lòng, song ngài vẫn có nhiệm vụ thẩm tra người xin việc, vì vậy đã diễn ra cuộc đối thoai sau đây : - Quê ông ở đâu ? - Thưa, tôi người Ba Lan. - Từ trước đến nay ông làm nghề gì? - Thưa ngài, tôi đi tìm việc. - Người gác đèn phải là người thích ngồi yên một chỗ kia đấy - Thưa, chính tôi cũng đang tìm một chỗ để yên thân. - Ông đã đi lính bao h chưa? Ông có chứng nhận phục vụ trung thành với chính phủ chứ? - Thưa, chứng nhận đây ạ. Huân chương chữ thập này tôi được thưởng năm 30. Cái thứ hai là huân chương của Tây Ban Nha, tôi được thưởng trong cuộc chiến tranh Caclixto. Cái thứ 3 là huân công của Pháp, cái thứ 4 tôi nhận được ở Hungari. Rồi tôi đánh nhau ở US chống lại các bang miền Nam, nhưng người ta không tặng huân chương, chỉ phát mẩu giấy này.
Ngài lãnh sự cầm lấy tờ giấy và bắt đầu đọc. - Hm.. Xkavinxki? Họ của ông đấy à...Hm..Tự tay đoạt được hai lá quân kì trong một trận đấu lê...ông từng là một người lính dũng cảm! - Tôi sẽ là một người gác đèn mẫn cán, thưa ngài ! - Ngoài ấy phải leo lên tận tháp đèn ngày một vài lần cơ đấy, liệu chân ông còn đủ cứng không? - Thưa, tôi đã từng đi bộ qua cả miền đồng bằng. - All Right! Ông có biết qua loa nghề biển chứ? - Tôi đã làm việc 3 năm liền trên tàu săn cá voi, thưa ngài. - Ông cũng qua nhiều nghề gớm nhỉ? - Thưa, tôi chỉ chưa tìm được chốn yên thân. - Sao vậy? - Cái số tôi nó thế... - Theo tôi, để làm nghề gác đèn thì ông hơi quá già đấy. - Sir, - ông lão chợt thốt lên bằng một giọng đấyf xúc động - Tôi đã mệt mỏi, đã chịu đựng nhiều qúa rồi. Ngài cũng thấy đấy, đời tôi đã trải qua bao đận. Giờ tôi chỉ mong sao có chỗ yên thân. Tôi già rồi, tôi chỉ cần yên tĩnh! Tôi muốn được tự nhủ với mình rằng : mày sẽ ngồi yên tại chốn này, đây đã là bến cảng của mày. Ôi Sir, việc này chỉ còn phụ thuộc vào mỗi mình ngài mà thôi. Khó lòng có cơ hội thế này lần nữa. May mắn làm sao đúng lúc tôi có mặt ở Panama kia chứ...tôi van ngài...thề có Chúa...tôi như con tàu sẽ bị đắm chìm nếu không được vào bến cảng. Xin ngài rón tay làm phúc cho thân già này....xin thề với ngài là tôi ngay thực, nhưng...tooi ngán cảnh này lắm rồi...
Đôi mắt xanh của ông lão biểu lộ lời cầu khẩn tha thiết đến nỗi nài lãnh sự - vốn có tấm lòng nhân hâuj và chất phác - cũng xúc động. - Well - ngài nói - tôi đồng ý nhận ông vào chấn gác đèn.
Nét mặt ông lão bừng lên biết ơn khôn tả. - Xin đa tạ ngài. - Thế liệu hôm nay ông đã có thể ra tháp đèn được chưa? - Thưa, đã. - Vậy thì xin chào!... À, thêm một điều nữa, chỉ cần trể nải một lần, ông sẽ bị thải hồi ngay đấy! - Được ạ
Ngay chiều hôm đó, khi mặt trời chìm vào làn nước biển, đêm sập xuống sau một ngày đầy nắng gần như không hề trải qua hoàng hôn, người gác đèn mới đã nhận việc, ngọn đèn biển đã lại chiếu ánh sáng chói lọi trên sóng nước. Đêm vô cùng thanh tĩnh, một đêm điển hình của vùng nhiệt đới, đấy ắp sương mù màu sáng, làm thành một chiếc quầng rộng rực sắc cầu vồng với đường viền mêm mại không rõ nét xung quanh mặt trăng. Ông lão Xkavinxki đứng trên ban công, ngay cạnh ngọn đèn to tướng. Trông từ phía dưới lên, nom ông lão như một chấm đen bé xíu. Ông lão đang cố gắng tập trung suy nghĩ về tình cảnh mới của mình, song những cản xúc mãnh liệt cho ông suy nghĩ mạch lạc. Ông lão có cảm giác của một con thú bị săn đuổi, cuối cùng đã tim` được một chỗ náu thân trong một khe đá hay một cái hang nào đó, nơi không một ai tới được. Thế là rốt cuộc thời yên tĩnh đã đến với ông. Cảm giác của sự an toàn khiến tâm hồn ông lão tràn ngậpmôt niềm hoan lạc không diễn tả thành lời. Vậy là rốt cuộc, trên cái đảo đá này, ông có thể quên đi cuộc sống lang bạt đã qua, những nỗi bất hạnh, những thất bại của ngày qua. Ông lão giống như một con tàu bị bão tố bẻ gãy cột buồm, bị xé rách tả rơi cánh buồm, dứt đứt tung dây leo, ném từ cao mây trời xuống tận đáy vực sâu, con tàu bị nhưng làn sóng sủi tung bọt trắng đánh cho tơi tả, song cuối cùng cũng tìm được vảo bến cảng. Bức tranh của cơn bão tố lướt nhanh trong đầu óc ông, đối lập với tương lai yên ả bắt đầu. Thực ra ông lão mới chỉ kể cho ngài lãnh sự nghe một phần nhỏ những bước thăng trầm của cuộc đời mình. Bao giờ ông cũng chỉ gặp toàn bất hạnh. Cứ mỗi lần ông hạ trại, nhóm lửa lên với ý định sinh cơ lập nghiệp lâu dài tại đó thì y như rằng gió bẫo lại nổi lêm, giật tung cọc trại, thổi tan đống lửa, xô đẩy ống vào chốn phong trần. Giờ đây, từ ban công đèn nhìn xuống những làn sóng loang loáng ánh sáng, ông lão bồi hối nhớ lại những gì đã trải qua. Ông đã từng đánh nhau khắp bốn phương trời, và trong cuộc đời phiêu bạt của mình đã thử làm qua hầu như tất cả mợ nghề để kiếm sống. Cần cù và trung thực, hơn một lần ông dành dụm được chút vốn liếng, nhưng chỉ để rồi sau đó lại bị mât trắng, mặc dù đã hết sức thận trọng đề phòng. Ông đã từng đào vàng ở Úc, tìm kim cương ở châu Phi, làm xạ thủ ở Đông Ấn, và đã có thời ông lập nông trại ở California , song lại bị hạn hán khiến cho phá sản.Ông cũng đã từng thử nghề buôn bán với các bộ lạc nguyên thủy sống sâu trong vùng lục địa Brazil, song chiếc bè của ông bị vỡ tung trên sông Amazon, còn ông- gần như trần truồng, không hề có lấy một tấc sắt trong tay - phải lần mò suốt mấy tuần liền trong rừng thẳm, bao phen suýt làm mồi cho thú dữ. Ông đã từng mở xưởng rèn ở Helena, song rồi xưởng bị thiêu trụi trong một nạn cháy lớn bao trùm thành phố. Sau đó ông bị rời vào tay dân Indian trong rặng Thạch Sơn, và có lẽ chỉ nhờ một phép màu nhiệm nào đó, ông mới may mắn được các xạ thủ Canada cứu thoát. Ông cũng đã từng làm thuỷ thủ trên chiếc tàu thuỷ chạy tuyến Bahia - Boocđô, rồi lại làm thợ săn trên tàu đánh cá voi, song cả hai con tàu đều gặp nạn. Ông đã từng là chủ một nhà máy xì gà ở La Habana, để rồi bị kẻ chung lưng cuỗm mất tất cả vốn liếng khi ông đang phải nắm liệt giường vì bệnh vômitô. Cuối cùng ông phiêu dạt đến nơi đây, và đây sẽ hẳn là ranh giới chấm dứt những chuyên không may của ông. Liệu còn có gì có thể theo đuổi ông ra tận cái đảo đá này nữa chứ? Cá nước, cả lửa, cả con người! Thật ra, nói cho cùng, thì từ phía con người ông lão Xkavinxki cũng không phải nhận quá nhiều điều bất hạnh. Trong đời ông đã gặp được nhiều người tốt hơn kẻ xấu.
Ngược lại, dường như tất cả bốn thứ hung thần của thiên nhiên đều thi nhau săn đuổi ông. Những người quen biết ông lão đều nói rằng ông không có phúchọ dùng điều áu để giải thích cho mọi nỗi bất hạnh của ông. Bản thân ông rút cục cũng đâm ra hơi mê tín. Ông tin là có một bàn tay độc ác và hằn thù nào đó cứ bám theo ông khắp nơi, trên mọi vùng đất, mọi vùng biển. Song ông không thik nói đến chuyện ấy. Thảng hoặc, khi có người hỏi xem đó là bàn tay kẻ nào, ông lão trỏ tay kín đáo về phía sao Bắc Đẩu, ra hiệu là từ hướng ấy đến....
Quả thực, những điều không may của ông lão xảy ra thường xuyên đến lạ lùng, dễ khiến cho người ta thối chí, nhất là những kẻ đã từng nếm trải chua cay. Song ông có được sức đề kháng lặng thầm nhưng mạnh mẽ bắt nguồn tữle phải của con tim, cùng tính kiên nhẫn của người Idian. Hồi ở Hungary, ông đã từng bị chọc mười mấy nhát lê cũng chỉ vì không thèm bám lấy cái bàn đạp chân được người ta ném cho để xin cứu mạng mà lại kêu lên: Pardon! Cũng tương tự như thế, ông không chịu hàng phục những tai ương của cuộc đời. Nhẫn nại như một con kiến, ông cứ bò dần lên. Một trăm lần bị đạp nhào xuống, ông lại bình thản leo lên tiếp lần một trăm lẻ một. Ông lão là một loaif người kì dị theo một kiểu riêng biệt. Người lính già ấy, người mà hoạ chỉ có Chúa mới hay, đã từng bị thiêu trong bao nhiêu ngọn lửa, đã từng luyện tôi trong bao nỗi cơ hàn, đã từng bị đánh đập và cùm kẹp, song vẫn mang một trái tim con trẻ. Trong thời gian bệnh dịch hoành hành ở Cuba, ông bị nhiễm bệnh cũng chỉ vì đã nhường toàn bộ số thuốc khá nhiều của ông cho những người bệnh, chẳng giữ lại chò minh một mảy may.
Ở ông lão còn một điều kì lạ nưa là sau ngần ấy những chuyện đau lòng, ông vẫn không bị mất hi vọng, vẫn tràn đầy niềm tin rồi đây mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Cứ khi mùa đông đến, ông lại hoạt bát hẳn lên, và háo hức đón đợi những sự kiện trọng đại, những sự kiện mà ông hằng trông ngóng, hằng sống cùng chúng suốt những năm tháng dài đằng đẵng... Song những mùa đông cứ nối nhau trôi đi, ông lão chỉ thu được một điều là mái tóc ông dần bạc trắng. Ông già đi và mất dần sinh lực. Tính kiên nhẫn của ông ngày càng gần với sự nản lòng. Sự bình tâm xưa nay đã ngả dần thành khuynh hướng tự thương thân, và người cựu chiến binh phong trần nọ biến thành một kẻ mau nước mắt, có thể xúc động vì bất cứ thứ gì. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ông lão lại bị giày vò bởi một nỗi hoài vọng sâu thẳm được gợi lên chỉ do những khung cảnh không đâu: một cánh én chao ngang, một đàn chim lông xám trông giống chim sẻ, một làn tuyết trên đỉnh núihay chỉ một âm điệu thoáng qua nghe như làn điệu mà ông lão nghe từ thuờ nào... Cuối cùng, chỉ còn một ý nghĩ duy nhất chế ngự ông lão, ý nghĩ về sự yên nghỉ, ý nghĩ đó chiếm lĩnh ông lão một cách hoàn toàn, nó cuốn đi mọi ước muốn và hi vọng khác. Kẻ lang thang vĩnh hằng ấy không còn khát vọng nào mãnh liệt và nhiều ý nghĩa hơn là tìm được cái xó yên ả nào đó, nơi có thể nghỉ ngơi mà chờ đợi kết cục cuối cùng. Có thể một sự kì lạ nào đó của số phận đã ném ông qua hết thảy mọi đại dương và mọi miền đất, không cho ông kịp nghỉ lấy hơi, để giờ đây ông cho rằng đối với kiếp sống con người không có niềm hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc không phải phiêu bạt. Quả thực, ông xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, song vốn đã quá quen với điều không may, ông chỉ dám nghĩ về niềm hạnh phúc ấy theo kiểu người ta ước đến một điều gì đó không sao đạt tới. Thậm chí, ông lão không dám ước điều đó nữa, ấy thế mà, đột nhiên chỉ trong một hai tiếng đồng hồ, ông lão đã tìm được chính việc làm mà dường như ông đã chịn cho riêng mình trong số tất thảy mọi công việc trên đời. Vì vậy, không có gì lạ, là khi đêm xuống, đốt ngọn đèn biển lên rồi, ông lão vẫn cứ bàng hoàng tự hỏi: phải chăng đây là sự thật? Và vẫn chưa dám khẳng định: phải chăng đây là sự thật. Trong khi thực tế thuyết phục ông bằng những chứng cớ không bác bỏ nổi. Và thế là giờ nọ nối giơf kia trôi qua, ông lão vẫn cứ đứng thần người ra trên ban công.Ông lão nhìn ngắm, tận hưởng và tự thuyết phục mình hãy tin vào sự thật. Dường như đây là lần đầu tiên ông được trông thấy biển, bởi lẽ những chiếc đồng hồ lớn ở Axpinoan đã điểm chuông từ lâu mà lão vẫn chưa chịu rời cái cao nguyên trên không trung của mình, vẫn đứng ngắm nhìn mãi. Biển ầm ì dưới chân ông. Thấu kính của ngọn đèn pha quét vào đêm những luồng sáng khổng lồ, bên ngoài những luồng sáng ấy mắt ông lão ngập chìm trong một chốn thăm thẳm tối tăm đầy những điều huyền bí nhưng khủng khiếp. Song dần như chốn xa thăm thẳm kia cũng đang chạy dần về phía ánh sáng. Những làn sóng dài từ bóng đêm nhô ra, réo lên à à, ùa vào chân đảo, lúc ấy có thể nhìn rõ cái bờm đầy bọt của chúng lóng lánh sắc hồng trong ánh sáng ngọn đèn pha. Thuỷ triều lên cao mãi, nhấn chìm dần những doi cát. Tiếng thì thầm huyền bí của đại dương từ khơi xa vọng về mỗi lúc một mạnh lên, ồn ã hơn, lúc nghe tựa súng đại bác gầm, lúc nghe như tiếng xạc xào của những rừng cây khổng lồ, lúc lại nghe như tiếng huyên náo của bao giọng nói quyện vào nhau. Đôi khi tất cả lại bặt đi. Sau đó vọng đến tai ông vài tiếng thở dài não nuột, tiếng nức nở nghẹn ngào, rồi lại những tiếng nổ dữ dội. Rồi sau đó, gió xua tan sương mù, song lại dồn về phía những đám mây đen rách tả tơi che khuất cả vầng trăng 8->. Gió Tây thổi mỗi lúc một mạnh. Những cơn sóng cuồng loạn nhảy chồn lên bờ đá dốc đứng, bọt liếm mãi lên cả vách tường xây. Cơn dông tố ì ầm phía xa. Trong khoảng không gian tối tăm xao động chợt sáng lên những ngọn đèn màu xanh lá mạ treo trên đỉnh các cột buồm. Những đốm sáng màu lục ấy lúc nhô lên, lúc chìm xuống, lúc lắc lư sang trái sang phải. Ông lão Xkavinxki xuống căn phòng mình. Dông tố bắt đầu nổi lên ngoài kia, trên những con tàu, con người phải vật lộn với đêm sâu, bóng tối sóng biển, nhưng trong căn phòng này vẫn yên ả và tĩnh mịch biết bao. Thậm chí ngay cả hồi âm của cơn bão cũng bị yếu đi nhiều khi xuyên qua các bức tường dầy; chỉ có tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ ồnhư ru đưa ông lão đã quá mỏi mệt vào giấc ngủ miên man.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|