Bài Viết Văn hóa

Mạn đàm về Ngôn Ngữ: Đẹp - Xấu; Khôn - Dại

Diệu Tần

Trong buổi ra mắt sách "Sơ lược về Ngôn ngữ" của chúng tôi ngày 17-9-00 vừa qua có một câu hỏi để góp ý nhưng chưa được trả lời.

Một thân hữu của nhà văn Hà Bỉnh Trung đã nêu câu hỏi: "Chúng ta nói đánh đòng xa hay đánh đường xa. Chúng ta thường nói: Vợ đẹp, con khôn, giả thử cứ nói đẹp vợ, khôn con có được không?

Có thể là ông đã có câu trả lời sẵn, nhưng tiếc vì buổi họp mặt không còn thì giờ và khách tham dự chưa góp ý với câu hỏi trên.

Tôi xin được góp ý.

Ngôn ngữ Việt Nam theo công thức SVO (Subject+Verb+ Object) như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc. Thí dụ: Tôi học tiếng Việt, nhưng cũng có nhiều quốc gia "cắc cơ"ù dùng OVS hay VOS hay SOV, họ nói Tiếng Việt học tôi hay Học tiếng Việt tôi hay Tôi tiếng Việt học.

Về thứ tự tính từ đặt sau chủ từ thì tiếng Viẹât nói vợ đẹp, chứ thông thường không nói đẹp vợ. Cách đặt câu này tạm gọi là SA (Subject+Adjective). Tiếng Pháp và nhiều nước khác dùng như Việt Nam, thí dụ nói: con trâu trắng, nhưng tiếng Trung Quốc và tiếng Anh lại "ngược ngạo"dùng AS, nghĩa là nói con trắng trâu, (the white water buffalo, bạch ngưu ....). Đây cũng là một yếu tố để các nhà ngôn ngữ học không đồng ý với lập luận cho rằng tiếng Việt là do tiếng Trung Quốc mà có.

Nhưng tiếng Việt vốn phong phú, linh động nên cũng dùng AS, nghĩa là đặt tính từ trước chủ từ. Sau đây là những thí dụ: đẹp mặt; đẹp duyên; đẹp đôi; đẹp lòng, đẹp ý, đẹp lão, đẹp trai; đẹp mắt.... Cách dùng này đương nhiên đã chuyển tính từ thành

danh động từ: làm đẹp mặt hoặc sự đẹp mặt, và cũng chuyển chủ từ đứng sau thành bổ từ.

Khuôn mặt đẹp khác với làm đẹp mặt. Nhưng tùy theo cách diễn tả nét mặt và giọng nói đẹp mặt lại có nghĩa tiêu cực, chê bai: Đẹp mặt chưa kìa! (Đã đủ xấu chưa?). Câu thơ cổ viết: Trước là đẹp mặt sau là ấm thân, muốn nói: Trước là đạt được sự hãnh diện cho gia đình, sau là được sống ấm no, sang giàu.

Tiếng thông tục hay tiếng lóng nói; Họ chém đẹp, Nhà hàng đó chém ngọt, có nghĩa là nhà hàng đó tính tiền đắt.

Trường hợp đặc biệt, theo kiêng cư,õ các bà cụ ngày xưa không khen con cháu mình là đẹp, xinh, vì sợ ma quỷ bắt đứa nhỏ di, hay chúng vì lời khen đó ngã bệnh, sẽ gầy ốm đi. Muốn khen, trong trường hợp này phải nói: Ồ, cái con chó này, dễ ghét quá, xấu quá!

Đẹp gần nghĩa với Tốt: good; bon, bien của Anh, Pháp. Trong quyển biên khảo của chúng tôi có đề cập cách dùng chữ của chế độ bên nhà là bất cứ tính từ tích cực nào cũng sử dụng chung một từ Tốt. Dùng như thế là làm nghèo nàn tiếng Việt đi. Tốt bị dùng để thay thế nhiều tính từ hàm súc hơn, có giá trị cao hơn: sõi, giỏi, hay, tài, khéo xuất sắc, tuyệt, tinh, tinh vi, hăng say, nổi bật, thạo khôn, hấp dẫn, lôi kéo, quyến rũ ....

Vì họ đã và đang dùng: Học tập tốt (giỏi); lao động xã hội chủ nghĩa tốt (hăng say), ăn tốt (ngon), ngủ tốt (say), biểu diễn tốt trên sân khấu ( hay), lái xe tốt (thạo)! !


Từ phản nghĩa của Đẹp là Xấu .

Chúng ta thường nói: (bức ) tranh xấu, không nói xấu tranh: cái khung làm xấu tranh đi. Rồi thường dùng: xấu bụng, xấu người, xấu chơi, xấu máu, xấu nết, xấu thói, xấu nết. Riêng từ xấu máu còn hàm ý là máu dê, máu ba mươi lăm. Tục ngữ nói: xấu người, tốt nết, lại có câu: xấu chàng, hổ ai có ý khuyên người vợ nếu làm cho chồng bị mất mặt, xấu hổ thì chính nàng cũng bị hổ ngươi.

Như thế, không thể nói đẹp vợ, khôn con để diễn tả ý khen người đàn ông đó, gia đình đó hạnh phúc, có người vợ đẹp, có những người con khôn lanh.

Khôn nhà, dại chợ là tục ngữ, cứ ở lì trong nhà, tưởng là đã khôn ngoan lắm, đi ra tiếp xúc với bên ngoài mới biết là còn non kém lắm. Trường hợp này sẽ không nói nhà khôn, chợ dại được.

Trường hợp Khôn hồn có nghĩa đặc biệt, đó là một lời cảnh cáo = nếu khôn
ngoan, nếu biết điều, nếu biết sợ thì....

Ở ngoài Bắc, nếu nghe lời khen với nụ cười mỉa mai: "Khôn, khôn thật.. .." phải coi chừng, đó là người đó muốn mỉa mai khen mình khôn như con chó.... khôn

Từ phản nghĩa Khôn là Dại. Tính từ đặt trước chủ từ có dại gái, dại trai, và dại mặt. Dại ở đây có nghĩa là mê, ngây ngô vì gái vì trai, chịu rất nhiều thiệt hại về phần mình. Dại mặt hàm ý: không dại gì, không sơ xuất làm những cử chỉ, hành động gì, để có hậu quả, rồi bị người khác chê bai mình.

Nói chung, cách sử dụng tính từ trước chủ từ thường có tính trừu tượng, còn đặt xuôi, thường có nghĩa cụ thể. Nếu khai thác kho thành ngữ, tục ngữ, ca dao, các cụ thường dùng cách AS để nhấn mạnh y muốn diễn tảù. Qua đó chúng ta thấy các cụ ngày xưa đã dám dùng những cấu trúc rất táo bạo.

Chúng ta đọc lại:

- No cơm ấm cật, dậm dật mọi nơi

- Tốt danh hơn lành áo

- Cao tay ấn

- Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa

- Yếu trâu còn hơn khỏe bò

- Ăn mày là ai? Aên mày là ta, đói cơm rách áo thì ra ăn mày

- Tay trắng vẫn hoàn trắng tay


No cơm = đầy đủ, dư dả; ấm cật = có chút tiền bạc rồi; ấm chỗ = sống yên chỗ rồi; nóng lòng, sốt ruột = lo lắng, quan tâm; lạnh cẳng (tiếng lóng) = sợ hãi, hèn nhát; ấm bụng = ăn no, tốt danh hơn lành áo = có danh vọng thì hay hơn là chỉ đếùn cơm áo; cao tay = tài giỏi hơn; mạnh chân, khỏe tay = còn đủ sức khoẻ; đói cơm rách áo = nói chung là ngheò; no bụng, đói con mắt = đã có rồi, đã đầy đủ, nhưng vẫn còn có lòng tham ,muốn có thêm nữa; nhanh tay, nhanh chân = khôn lanh, nhanh nhẹn, chậm chân = chậm lụt, kẻ đếùn sau, đắt chồng = có nhiều chàng trai hỏi cưới, đắt hàng = bán hàng được nhiều, có nhiều khách hàng; tối trời = ban đêm; sáng mắt = giác ngộ, đã hiểu, đã vỡ lẽ; dài ngày = thời gian lâu, về lâu về dài; ngắn ngày = thời gian ngắn hạn; rộng lượng = người khoan dung, biết tha thứ biết chấp nhận những sai trái của người khác; hẹp bụng = người khó tính, hay chấp nhặt, không biết tha thứ; trắng tay = mất hết, tay không, không còn gì cả;cao cờ = thông minh, khôn ngoan hơn người; sáng da,ï sáng trí = thông minh; tối da ï= ngu đần, chậm hiểu; chậm tiêu (tiếng lóng) = kém thông minh, ngu dốt.

(Cộng sản Việt chế ra câu sáng mắt, sáng lòng là nói sai, từ xưa tới nay không ai nói sáng lòng cả).

Miền Nam thường nói: Rầu thúi ruột, thì không phải cái ruột bị hư thối mà có nghĩa là buồn quá lắm, buồn không tả được.

Nhỏ con, lớn con (con ở đây làvóc người tác người, cách dùng rất chính xác)

Cụ Nguyễn Du dùng nhiều lối nghịch đảo như thế: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Viết đau đớn lòng là trừu tượng, là muốn nhấn mạnh, bởi viết lòng đau có thể bị hiểu nhầm là bị đau ruột, đau bao tử!

Tiếng Anh cũng đã dùng ngắn ngày, dài ngày như chúng ta, nhưng không dám dùng long day, short day mà phải dùng long-term, short-term.

Như thế chúng ta nói tối trời cũng được và trời tối cũng được, nói mắt sáng được thì sáng mắt cũng có ý nghĩa. Nhưng nếu nói đẹp vợ, khôn con thì không được! Cũng như không thể nói: tay cao; dạ tối; lòng nóng, ruột sốt được. Người Anh, người Trung Quốc nếu nói đảo ngược như người Viẹât nói chắc chắn không có nghĩa gì cả. Tất nhiên họ không thể nói ngưu bạch hoặc the water buffalo white được.

Tiếng Việt là thứ tiếng thuộc loại không biến cách (non-inflection), chẳng hạn
không thể dùng một tính từ để thêm, thay đổi hạâu tố (suffix) như tiếng Pháp tiếng Anh để thành danh từ, động từ, trạng từ được, thí dụ: beauté, beau, belle/ beauty, beautiful, beautifully; Vietnam, Vietnamese, Vietnamize…Phần lớn những ngôn ngữ ở Phi châu, Á châu và Thái Bình dương có nhược điểm đó. Nhưng bù lại từ xưa tiếng Việt vẫn đuợc khen là có nhiều âm điệu và phong phú, tài tình, như cách dùng đảo ngược giữa chủ từ và tính từ vừa kể, thực đã khiến chúng ta hãnh diện có tiếng mẹ đẻ đáng yêu.

Diệu Tần
(11/10/00)


Số Lần Chấm:  
23

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 3,979
Nguồn:
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: www.vietnamdaily.com
Người sửa: TVMT; 9/7/2003;