|
Ôi không biết cái làng Nại Hiên Tây có tự bao giờ. Hồi tôi còn
nhỏ làng nầy còn thưa thớt dân chúng, phía trong có lũy tre, bờ ruộng.
Trong ngõ vào nhà tôi hàng tre mát rượi, rắn rít thỉnh thoảng bò qua
lại trên đường (người ngoài tôi thường gọi là đường kiệt). Nhà trong
hẻm cũng chẳng có bao nhiêu cái. Phần đông nhà tranh vách đất, tối thắp
những ngọn đèn dầu lù mù. Riêng nhà tôi là một trong những ngôi nhà
ngói hiếm hoi trong con hẻm. Nhà nầy của ông nội tôi xây dựng từ lâu
lắm mà nay trở thành nhà thờ của giòng họ tôi ở Ðà Nẵng.
Mẹ tôi mất sớm, khi tôi vừa chỉ mới 1 tuổi. Tôi được chuyền tay từ
bên nội qua bên ngoại nuôi nấng. Ðến khi 4, 5 tuổi mới về sống hẳn với
ba tôi tại ngôi nhà thờ. Ba tôi, một người đàn ông góa vợ. Ở vào cái
tuổi thanh niên, chưa quá ba mươi vừa đi dạy vừa săn sóc con. Thật tội
nghiệp cho ông, mỗi buổi chiều hai cha con ra ngoài giếng sau nhà, tắm
rửa và giặc giũ cho tôi. Trời chạng vạng tối ông đút cơm cho tôi ăn và
dỗ cho tôi ngủ. Có một điều mà tôi vẫn còn nhớ mãi cho tới bây giờ,
không biết lúc ấy tại sao ông lại bắt tôi lên giường ngủ quá sớm. Sau
nầy lớn lên tôi mới hiểu được. Tôi có đi ngủ sớm thì ông mới rảnh rỗi
lo chấm bài cho học sinh, chuyện trò với bạn bè, và cũng lo tìm một
người thay cho má tôi để sửa túi nâng khăn, tối lửa tắt đèn có nhau. Có
lẽ là chuyện sau cùng nầy, đã chiếm nhiều thời giờ của ông nhất.
Sau nầy nhìn lại những tấm hình còn trẻ của ông, tôi mới biết ông
cũng thuộc típ người đẹp trai nên cũng được nhiều bà chú ý. Có một lần,
tôi thức dậy nửa đêm chợt không nhìn thấy ba bên cạnh, khóc thét lên.
Nhưng rồi tôi biết có khóc lớn cũng chẳng có ai dỗ dành. Trong ngôi nhà
thờ lớn, trống vắng, tôi thì lại sợ ma. Tôi đắp mền kín đầu thút thít
khóc, thì bỗng nhiên có một bàn tay gỡ tấm mền trên đầu tôi xuống. Tôi
điếng hồn không dám mở mắt ra nhìn, không dám khóc. Tôi nghe những
người trong nhà kể lại, má tôi thường hay hiện về ngồi trên đầu giường
nhìn tôi ngủ. Vong linh của bà không thể nào siêu thoát được, khi còn
ràng buộc bởi những hệ lụy quá lớn của cõi trần. Má tôi mất tuổi đời
chỉ mới 22. Tôi là đứa con đầu lòng và cũng là cuối cùng của đời bà.
Làm sao bà yên tâm ra đi khi đứa con duy nhất chỉ mới 11 tháng tuổi,
cho nên người trong nhà thường thấy bà lởn vởn chung quanh tôi mỗi đêm
nhìn tôi ngủ. Nói thế, chứ quả thật tôi chưa bao giờ thấy được mặt của
má tôi. Khi tấm mền được gỡ ra khỏi đầu, một bàn tay mềm mại vuốt lấy
tóc tôi. Tôi điếng hồn không sao khóc được, mắt không dám mở ra, thiêm
thiếp nằm không dám cựa quậy. Tiếng nói văng vẳng bên tai: " Tôi nghiệp
cho thằng bé, mới có mấy tuổi mà phải ngủ một mình. Cha thì lo đi o
mèo". Tiếng nói trách móc êm dịu của một người đàn bà thân thiện, quen
thuộc. Rồi bà ôm tôi vào lòng. Lúc nầy tôi mới nhận ra được đó là cô
Thanh, người bạn của ba tôi. Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy
được sự yêu thương của người mẹ, mặc dù cô Thanh không phải là mẹ tôi.
Hình ảnh hiền dịu của cô cho đến bây giờ vẫn còn trong tôi mãi mãi. Sau
nầy, tôi không biết giữa cô Thanh và ba tôi đã xẩy ra chuyện gì, mà tôi
không còn gặp cô nữa. Hồi đó cô đến nhà tôi chơi thường lắm, có bữa ở
lại ăn cơm với cha con tôi.
Tôi là đứa bé đến trường sớm nhất, ba tôi mở trường dạy học ngay
tại nhà, để vừa chăm sóc tôi vừa kiếm một ít tiền chi phí. Hình như
trong đời, ông ít quan tâm đến tiền bạc. Ông ngại khổ, ngại khó và
không thích bon chen, mà người như vậy thường không siêng năng. Các bạn
bè của ông chê ông như vậy, nhưng với tôi bao giờ ông cũng là một người
cha tuyệt vời. Sống trong hoàn cảnh thiếu thốn ông vẫn giữ được tấm
lòng thanh bạch. Khi bắt đầu biết đọc, biết viết, tôi thèm đọc các
truyện bằng tranh, nhưng lại không có tiền để mua. Tôi thường đến nhà
mấy đứa bạn để xin tụi nó cho đọc ké. Mỗi lần như vậy tôi phải hối lộ
bằng những cây kẹo chanh, mà tôi xin tiền bà ngoại để mua. Kẹo, thèm
chảy nước miếng, nhưng truyện bằng tranh thèm hơn. Tôi mua kẹo mà ít
khi nào được ăn vì phải để dành đổi truyện đọc trong vài giờ. Hồi đó có
những loại truyện bằng tranh dành cho trẻ con, phát hành mỗi tuần một
lần. Ðến thứ năm, mấy đứa con nít thuộc cỡ tuổi tôi nhộn nhịp bàn tán,
vì đó là ngày các hiệu sách bày truyện tranh mới. Nói thế chứ mấy đứa
có tiền thì nôn nóng, còn tôi đâu có cái diễm phúc nầy (vài ngày sau
mới được đọc). Từ thuở bé, tôi đã biết thế nào là nghèo khổ. Thiệt thòi
và thèm khát đủ mọi thứ, khi sinh nhằm vào những gia đình như vậy.
Tôi lớn lên từ những thiếu thốn tình thương cho tới vật chất, mặc
dù tôi nghe người ta kể lại rằng ông Nội tôi thuở xưa giàu có. Có lẽ vì
chiến tranh, nhiều lần tản cư đã làm khánh tận biết bao gia đình, trong
đó có gia đình của tôi. Tôi biết thân phận mình, nên không vòi vĩnh hay
đòi hỏi ba tôi một thứ gì. Sống trong cái nghèo, thiếu thốn đủ thứ. Chỉ
biết thèm thuồng, nuốt nước miếng, khi nhìn thấy những đứa bé cùng
trang lứa ăn sung mặc sướng. Cái nghèo đã làm cho tôi ray rứt suốt
trong thời thơ ấu. Tôi nguyện trong lòng sau nầy sẽ phải cật lực làm
việc, để kiếm tiền cho đỡ thua thiệt với mọi người. Tuổi thơ của tôi
đầy những bất hạnh, sống thui thủi một mình, lặng lẽ, trong lúc những
đứa trẻ khác được nũng nịu với mẹ, được mẹ nưng chiều. Xóm tôi cũng có
những đứa bụi đời, nhưng trong xóm chúng không phá phách. Tôi thì nhập
bọn với tất cả, miễn sao được vui. Những thằng bạn nhỏ vừa giữ em vừa
chơi, có đứa vì ham chơi bỏ em trên bãi cỏ lăn lóc, ăn bất cứ thứ gì mà
đứa bé có thể lượm được dưới đất. Thằng anh thì sa đà trong cuộc chơi
không ngó ngàng tới, đến khi mãn cuộc nhìn lại thì miệng của mấy đứa bé
nhồm nhoàm đủ thứ đất, rác rến.
Thằng bạn có nhiều kỷ niệm nhất trong thời thơ ấu của tôi là thằng
Nhứt. Thằng nầy lớn hơn tôi vài tuổi, con của bà ba Sanh gần nhà tôi.
Mẹ nó là người nổi tiếng dữ nhất xóm, nên không có ai dám đụng tới bà.
Thằng Nhứt là con trai trưởng, rồi tới con Nhì và sau đó thêm cả chục
đứa nữa. Không biết sao mấy đứa kế tiếp không mang tên thằng Tam, con
Tứ mà lại được bà ba Sanh đặt tên thường, không theo thứ tự số của chữ
Nho nữa. Có lẽ bà biết trước rằng bà sinh nhiều con, sinh con năm một,
qua con số mười chẳng lẽ phải gọi thằng Thập Nhứt, con Thập Nhị nghe
không được thuận tai. Người khác sẽ cười cho, khi chữ Nho tràn ngập cả
nhà mà chẳng có người nào biết một chữ cái. Nhưng khi bà sinh đứa con
thứ mười, không biết sao bà nhớ lại chữ Nho nên đặt ngay cho đứa con
gái đó là tên con Thập, để đánh dấu mình được mười mặt con. Con quá
đông mà nhà lại nghèo, chẳng ai coi ngó nên các đứa bé trông thật thảm
hại.
Tôi còn nhớ khi tôi bảy, tám tuổi gì đó, chúng tôi hay tập trung
trước sân nhà một ông Trung úy để bắn bi. Trung úy lúc đó lớn lắm, còn
mang lon của quân đội Pháp. Nhà ông nầy ở ngay đường cái, trước hẻm Bảo
Trác. Ông có nuôi một con chó bẹc-giê rất dữ. Thường thì con chó nầy
được cột vào trụ trước hành lang. Không biết sao bữa đó chủ nhà quên
cột nó lại. Bọn trẻ tụi tôi kéo vào bắn bi, mấy đứa vừa bỏ em xuống bãi
cỏ thì con chó nhào ra. Ðứa nào không có em thì phóng ra trước, đứa nào
có em thì tới ẵm em rồi chạy ra sau. Thằng Nhứt trước khi chơi, đã tìm
một chổ bãi cỏ sạch ở phía trong cho em ngồi chơi. Khi con chó nhào ra
thì nó phải chạy u vào bên trong ẵm em nên chạy ra sau cùng. Ðứa em mà
nó cõng trên lưng, bị con chó nhảy lên cắn vào đít rách quần. Chiều hôm
đó về nhà, nó bị cha nó đánh cho một trận đòn nên thân. Sáng ngày hôm
sau nó còn uất ức nên tìm cách hại con chó. Nó là thằng lì lợm và gan
dạ nhất trong bọn tôi, nên khi nó tuyên bố là nó phải đánh con chó cho
bằng được là tụi tôi tin ngay, tụi tôi đi theo sau để xem nó làm gì với
con chó dữ kia.
Một mình nó vào hành lang chỗ con chó đang bị cột, tay nó cầm cây
ba-toong xăm xăm đến gần. Con chó lồng lộng nhe răng nhảy vồ ra, không
ngờ sợi dây bị sút. Thằng Nhứt luýnh quýnh không biết làm cách nào, cây
ba-toong trên tay rơi mất. Tới không được, lui không xong, đứng trân
người chịu chết. Con chó phóng lên định táp vào cổ nó. Phản ứng tự
nhiên nó đưa tay phải ra để chống đỡ, cũng vừa lúc con chó há miệng
rộng, cộng với sức phóng của con chó, bàn tay nhỏ của thằng Nhứt lọt
vào miệng con chó tới tận cuống họng. Tay nó móc chặt vào cổ họng, làm
cho con chó không cắn được, quỵ xuống nhảy đành đạch một hồi rồi chết.
Tụi nhỏ chúng tôi đứng bên ngoài vỗ tay vang dội, xem như đây là chiến
thắng lẫy lừng của thằng Nhứt. Tôi còn nhớ rõ, vóc dáng như thằng ốm
đói, mặc cái quần xà lỏn quá khổ của cha nó, một tay luôn luôn giữ lưng
quần cho khỏi tụt. Khi con chó tấn công, sợ quá hai tay quờ quạng không
giữ được đai quần, chiếc quần xà lỏn tụt xuống dưới đất. Thấy hình ảnh
nầy thật buồn cười, mà ngay lúc ấy hết sức nguy hiểm cho nó, tụi tôi
đứng bên ngoài không thể cười được. Cho tới khi con chó chết, nó rút
tay ra khỏi miệng, rồi vội vàng kéo quần lên, thủng thẳng đi ra ngoài.
Lúc đó tụi tôi mới cười được, vừa mừng cho nó thoát nạn, vừa thấy nó
lửng thửng giống như Charlot trong phim hề. Chiều về ông Trung úy mang
súng vào nhà thằng Nhứt, tìm nó. Bọn nhỏ tụi tôi hết hồn, thế nào cũng
xẩy ra chuyện lớn. Cha nó kêu nó ra ngoài. Ông Trung úy rất ngạc nhiên
thấy thằng bé con loắt choắt, ốm tong, mà làm sao giết chết một con chó
cao lớn. Tôi cứ nghĩ, thế nào ông cũng rút súng ra dọa, hay tát cho nó
vài cái cho hả cơn giận. Nhưng không, ông chỉ hỏi nó vài câu rồi lắc
đầu ra về. Có lẽ khi nhìn thấy thân hình còm cõi của nó, ông động lòng
thương hại, nên cơn giận của ông hạ ngay.
Sau nầy khi mọi chuyện êm xui, nó kể cho tụi tôi nghe với cái giọng
trịch thượng, như một võ sĩ nhà nghề. Tôi không biết "Võ Tòng sát hổ"
ngày xưa oai hùng ra sao, chứ "Lê Nhứt sát cẩu" của bọn tôi, danh vang
dội cả làng Nại Hiên thuở ấy. Ðám con nít đầu trên xóm dưới đều nể sợ.
Vài năm sau, nó thành thật khai báo với tôi là lúc đó nó chẳng biết gì
cả. Con chó khi sút dây nhảy tới là nó muốn đái trong quần, chỉ còn chờ
đợi cho nó tới cắn. Khi con chó nhảy lên định cắn vào cổ nó, nó sợ quá
đưa tay ra đỡ, để con chó cắn vào cánh tay. Không ngờ mọi việc xẩy ra
như vậy, chứ làm gì có võ nghệ. Cơm không đủ ăn làm gì có tiền để đi
học võ.
Ngoài chuyện gan lì, thằng Nhứt còn có một biệt tài là hát rất hay.
Tân nhạc thì tôi chưa nghe nó hát lần nào, nhưng cải lương, hát bội, nó
hát nhuần nhuyễn như một kép hát chính hiệu. Hát có đúng bài bản hay
không, bọn nhỏ tụi tôi làm sao biết được. Mà cần gì bài với bản, miễn
sao hay là được rồi. Tôi còn nhớ giọng của nó cất lên thanh như chuông
đồng. Mấy người lớn đi ngang qua chỗ chơi của đám con nít tụi tôi, gặp
lúc nó hứng chí cất giọng oanh vàng lên, họ cũng đứng lại lắng nghe.
Ðiệu bộ của nó khi hát cũng có vẻ thành thục lắm. Có lần tôi hỏi tại
sao nó biết nhiều bài đến thế, còn điệu bộ ăn khớp với lớp lang nó diễn
tả. Nó nói dóc với tôi là nó được thầy dạy. Ông thầy dạy hát nầy hứa
sau nầy nó lớn lên, ổng sẽ thu nhận nó vào gánh hát bội Ý Hiệp Miền
Trung.
Có một lần cậu tôi chở tôi đi ăn khuya ở ngã năm về. Khi ngang qua
rạp hát bội Hòa Bình có gánh Ý Hiệp Miền Trung đang hát, đúng vào lúc
thả cửa cho những người vào coi cọp màn chót, tôi trông thấy thằng Nhứt
đang chen lấn để được vào xem. Tôi xin cậu tôi cho tôi vào coi một chút
cho biết cảnh hát bội. Cậu tôi đồng ý dựng xe đạp bên ngoài đứng chờ.
Tôi lẻn vào trong rạp tìm thằng Nhứt mà không được, vì rạp hát tối quá
không thấy nó ở đâu. Hôm đó đoàn Túy Nguyệt treo trước cửa diễn vở
"Tống Thái Tổ trảm Trịnh Ân". Ngày hôm sau tôi ra chỗ bọn nhỏ tụ họp
hơi trễ, nên chưa cho nó biết là tôi trông thấy nó ở rạp hát hồi hôm.
Thằng Nhứt đang cao hứng diễn lại đoạn chót của vở tuồng khi hôm nó đã
coi. Cảnh Tống Thái Tổ đi đôi hia vòng sân khấu, che chở cho ái phi của
mình, khỏi phải rơi đầu bởi nhát đao của bà vợ Trịnh Ân. Ðiệu bộ và cốt
cách y chang các diễn viên của đoàn Túy Nguyệt. Phải công nhận rằng nó
nhớ dai thật và hát cũng không thua gì mấy kép hát chính hiệu. Tôi mới
để ý một điều, là tuồng nào thằng Nhứt cũng đều diễn màn chót, mà không
lúc nào nó diễn đoạn đầu. Thì té ra nó coi cọp chỉ có đoạn chót nên bắt
chước, làm sao nó biết được đoạn đầu ra thế nào. Tôi cũng không khui ra
chuyện trông thấy nó làm gì, để nó cụt hứng tội nghiệp. Hơn nữa, tôi
cũng sợ nó giận là một sự bất lợi cho tôi. Có một điều quan trọng là dù
có ra điệu bộ gì, thì một tay nó vẫn giữ đai quần đùi cho khỏi bị tụt.
Cái quần đùi quá khổ của cha nó cho, rộng thùng thình, lúc nào cũng
thấy nó mặc. Có lẽ khi qua tay nó chiếc quần xà-lỏn nầy chưa bao giờ
thấy nó đem giặt. Nó mặt cái quần dơ hầy, đẫm đủ thứ mùi hôi, trong đó
có mùi nước đái của em nó là nhiều nhất. Cũng lạ là dây lưng quần đâu
có tốn kém gì, mà mẹ nó không làm cho nó một sợi.
Người thứ hai, trong đám bạn nhỏ của tôi thuở ấy là thằng Bông, con
bà ba Lọ ở đầu xóm. Thằng nầy chơi bắn bi thuộc hàng cao thủ. Tôi còn
nhớ những viên bi ngày xưa bọn nhỏ của tụi tôi tự làm, viên bi bằng chì
sau khi đúc xong tụi tôi ngồi mài cho tròn, rồi đánh bóng bằng cát.
Chúng tôi phải mất mấy ngày trau chuốt cho nó tròn trịa đẹp mắt, chứ
làm gì có tiền để mua những viên bi chai màu sắc sặc sỡ. Tụi tôi tự may
một cái bọc nhỏ, để đựng mấy viên bi. Quý lắm, như một thứ gia bảo.
Thằng Bông có nghề mài bi, trong xóm đứa nào cũng nhờ nó mài giùm. Mấy
đứa bé trong xóm có đồng bạc nào đều đem ra nộp cho nó hết, bởi cách
cách bắn bi thiện nghệ của nó. Thằng nầy tính tình hiền lành, nên khi
bắn bi bị mấy thằng nhóc tụi tôi ăn gian, cũng không sao. Nó biết chắc
rằng, dù tụi tôi có gian lận cách mấy, thì rốt cuộc mấy đồng bạc cũng
vào tay nó. Vị thế của viên bi ở bất cứ chỗ nào, nó cũng bắn trúng. Mỗi
lần nó bắn trúng là tụi tôi dà hùa với nhau bắt bẻ, không chấp nhận kết
quả bằng đủ mọi cách. Nó ăn đồng bạc của tụi tôi cũng khó lắm chứ không
phải chơi. Nếu tụi tôi không đồng ý là nó bắn lại, đến lúc nào tụi tôi
không còn đường chối cãi, thì lúc đó mới móc tiền ra trả cho nó. Thời
đó chưa có phim kiếm hiệp, chưa có ai biết cái câu "tâm phục khẩu phục"
mà mấy diễn viên tàu hay nói, thế mà câu nầy lại ứng dụng, đúng phóc
vào hoàn cảnh của tụi tôi với thằng Bông lúc đó, làm cho tụi tôi khi
móc hầu bao trả tiền cho nó còn phải phục nó sát đất.
Tôi thì chơi bắn bi, tay chân lọng cọng, dù gần cũng không bắn
trúng được. Chỉ có đánh bóng bàn là thuộc loại chiến nhất. Khu xóm
nghèo làm gì có bàn, có vợt đàng hoàng. Nhà cô tôi làm nghề mộc nên có
nhiều bàn thợ mộc. Chúng tôi dùng bàn thợ mộc làm bàn "bing-bông". Lưới
chính giữa là khúc cây, vợt là tấm bảng đen nhỏ cá nhân của học sinh.
Từ bàn" bing bông" nầy tôi lần lượt hạ các cao thủ của xóm tôi như
chơi. Sau nầy trở thành cây vợt của lớp, rồi của trường. Tôi có khiếu
về thể thao, chơi thứ nào cũng được. Sau nầy khi vào Thủ Ðức tôi là cây
vợt đại diện cho khoá. Thiệt tình tôi đánh bóng bàn vì ham thích nhưng
không có sự huấn luyện bài bản. Một hôm, trong cuộc thi đấu tôi gặp một
Tân khóa sinh thuộc khóa đàn em mới vào. Cách giao bóng của người nầy
làm cho tôi lúng túng và hạ tôi một cách dễ dàng. Tôi biết đây là một
cao thủ. Cỡ tôi không phải là đấu thủ của người nầy. Thế mà không biết
sao khi vào đấu với nhau, "rơ" đầu tôi hạ người nầy một cách dễ dàng.
Còn hai "rơ" sau người nầy hạ lại tôi. Sau nầy tôi mới biết, mấy đứa
bạn cùng khóa tôi đứng bên ngoài thấy tôi đánh quá yếu, bèn hầm hừ dọa
nạt. Mấy ông thần cùng khóa tôi thuật lại.Vì giữ thể diện cho tôi, nên
tụi nó bắt thằng nhỏ phải thả nếu không ra ngoài tụi nó sẽ chận đầu
thằng nhỏ để phạt. Khi về phòng tụi nó lặp lại cho tôi nghe, tụi nó
đứng phía sau thằng nhỏ Tân Khóa Sinh dọa: "Biết mình đánh hay hơn
huynh trưởng mà cắm đầu chỉ biết ăn, không biết giữ lễ gì cả, không
biết nhường cho huynh trưởng xếch đầu. Anh ra ngoài sẽ biết tay chúng
tôi, sẽ phạt treo giò lên hàng rào...". Tụi nó hầm hừ nhiều lần như
vậy. Tân khóa sinh mà thấy các huynh trưởng "ra lệnh", không tuân hành
thì bỏ mạng. Lúc tôi học ở Thủ Ðức là ông Lê văn Inh, vô địch bóng bàn
Việt Nam thuở ấy làm huấn luyện viên thể dục.
Tôi thấy lúc ấy, chơi với mấy đứa bạn nghèo "chí tình" hơn những
đứa giàu có. Thằng Bông khi ăn tiền của tụi tôi xong, là nó chạy ra mua
quà đãi lại cho tụi tôi ngay. Tôi nhớ một lần nhìn thấy thằng Hồng ngồi
đọc truyện bằng tranh, thằng Tự biết tôi thèm thứ nầy nên nói nhỏ với
tôi rằng ngày mai nó sẽ cho tôi một xấp, tha hồ mà đọc. Quả thật ngày
mai, không biết từ đâu thằng Tự mang cho tôi một xấp truyện mới tinh,
còn thơm mùi mực in. Sau nầy tôi mới biết nó ăn cắp ở Nhà sách Lam Sơn.
Nó kể rằng muốn lấy thứ nầy dễ lắm, kéo vào hiệu sách chừng năm bảy đứa
hỏi tứ tung, cô bán hàng xao lãng là thằng khác cứ tha hồ lấy nhét vào
bụng, đậy áo lại là xong. Sau nầy, tôi được những đứa bạn nghèo cung
cấp các truyện nầy, đọc mệt nghỉ. Dần dần khi tôi học lớp ba, tôi mới
khám phá ra truyện bằng tranh không còn hấp dẫn nữa, truyện in sách dày
mới hấp dẫn.
Hồi đó ngày thứ năm được nghỉ học, tôi ra phố một mình la cà vào
mấy hiệu sách, mắt dán chặt vào mấy quyển truyện tàu như Tam Quốc, Thủy
Hử, Ðông Châu Liệt Quốc, những tựa đề nghe ra không hiểu, nhưng muốn
xem thử. Tôi cầm lên đọc vài đoạn nhưng không vô, đành phải bỏ xuống.
Trong đầu tôi lúc đó chỉ có mấy cái truyện Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm
Công Cúc Hoa, Thạch Sanh là hấp dẫn hơn cả , không có truyện nào bằng.
Nước mắt tôi đã đẫm ướt không biết bao nhiêu kể, qua các thăng trầm của
từng nhân vật chính trong truyện. Tôi là một đứa bé mau nước mắt, sống
lủi thủi một mình, nên đầu óc mang nhiều tưởng tượng, mang nhiều ao
uớc, trong đầu tôi luôn luôn suy diễn đủ thứ. Những đầu sách quen thuộc
tôi đã đọc nên lướt qua. Tôi đến một gian khác có quyển sách nào mới lạ
không, thì mắt tôi dừng lại ngay quyển truyện của Hà Mai Anh mang cái
tên là "Tâm Hồn Cao thượng". Chao ôi, chỉ có cái tên thôi quá hấp dẫn,
làm cho mấy thằng bé ham sách như tụi tôi phải ngẩn người. Lật sách ra
phía sau xem giá tiền, dù có mơ cũng không thể nào mua được vì giá quá
cao. Về nhà tôi tơ tưởng mãi, ước gì đọc được quyển sách nầy. Trong lớp
tôi có thằng Hưng nhà bán thuốc bắc mua được, nhưng dù có năn nỉ rớt
nước miếng nó cũng không cho mượn. Thật là bất công, một thằng có tiền
mua sách không chịu đọc, còn thằng nghèo muốn đọc sách lại không có
tiền để mua.
Tôi có bà dì ở Huế vào thăm, (dì xuất gia đang tu ở chùa Vạn Phước
ngoài Huế). Tôi mất mẹ quá sớm nên Dì Diệu rất thương tôi. Mỗi lần có
dịp vào Ðà Nẵng là Dì dẫn tôi đi sắm đủ thứ từ giày, dép, quần áo. Và
bao giờ khi sắm xong dì cũng hỏi tôi còn muốn thứ gì nữa không. Lần nầy
thì tôi nhứt định không để lỡ cơ hội. Tôi xin Dì mua cho quyển Tâm Hồn
Cao Thượng của Hà Mai Anh. Dì rất ngạc nhiên, không ngờ tôi ham đọc
sách như vậy. Dì vò đầu, rồi dẫn tôi vào hiệu sách Lam Sơn. Ngoài quyển
Tâm Hồn Cao Thượng, Dì còn chọn cho tôi mấy bộ sách lạ hoắc như Vô Gia
Ðình, Những Kẻ Khốn Cùng. Tôi không thể nào diễn tả hết được sự sung
sướng của tôi lúc ấy, tôi cất kỹ mấy quyển sách nầy trong hộc đựng
chung với quần áo. Quả thực thì mấy bộ sách dịch mà dì mua cho, quá khả
năng hiểu biết của tôi lúc ấy. Ba tôi bảo rằng giữ kỹ, chừng vài năm
sau hãy coi, song tôi đâu chịu như vậy, phải đọc cho biết. Hình như lớp
ba, lớp nhì ngày xưa già dặn hơn bây giờ, đọc mấy quyển nặng ký nầy tôi
cũng lõm bõm hiểu sơ sơ tuy không sâu sắc bằng khi lên đệ thất, đệ lục
đọc lại.
Hồi nhỏ khi đọc xong truyện nào tôi gấp sách lại, chạy ù ra ngoài
tìm mấy đứa bạn rồi kể cho chúng nó nghe, để cho chúng cùng chia xẻ với
cái thú mà tôi đã tận hưởng. Tôi không biết mình đã có cái năng khiếu
kể chuyện lúc nào, mà mấy thằng bạn nhỏ trong xóm rất thích nghe và
phục tôi sát đất. Dĩ nhiên trong khi kể tôi thêu dệt thêm cho câu
chuyện mặn mà. Chuyện của tôi kể bao giờ cũng có hậu, nhiều khi chính
bản của nó trong sách không phải vậy. Nhưng tôi thêm vào cho đúng với ý
mình "hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai", mà có thêm thắt chút đĩnh thì
tụi nhỏ bạn cũng chẳng có đứa nào biết, mà nếu chúng nó biết thì cũng
không phản đối vì như thế tức là chọc quê tôi, làm tôi mất hứng, lần
sau tôi không kể những truyện mà mình đã đọc cho chúng nó nghe. Tôi
không thể để cho nhân vật chính chết oan ức được, phải dựng họ sống dậy
để hưởng phú quý, giàu sang và nhất định phải được hạnh phúc. Sau nầy
khi đi coi ciné về tôi cũng thuật lại cho bạn bè nghe, nhưng theo ý của
mình kết cuộc có hậu. Có những lần phim hay nhưng không có tiền để đi
coi, tôi đến rạp xin mấy tờ program, rồi tưởng tượng ra kể vanh vách
cho bạn bè nghe như đã đi xem trong rạp. Những thằng bạn nhỏ nghèo khổ
của tôi thích lắm, đôi khi chúng nó cũng biết tôi xạo nhưng hề chi,
miễn sao vui, hấp dẫn là được. Bạn nghèo bao giờ cũng dễ tính, dễ tha
thứ, xề xòa bỏ qua những lỗi lầm.
Thằng Minh đầu bò, học cùng lớp và cũng ở cùng xóm với tôi. Mẹ nó
tên là bà Thẻo bán thịt heo ngoài chợ Nại Hiên. Nó thân với tôi lắm,
mỗi sáng đi học nó mang một ổ bánh mì thịt heo quay, bao giờ nó cũng
chia cho tôi một nửa. Tại sao chúng tôi phải gọi nó là đầu bò? Không
phải nó học dốt mà mang danh hiệu nầy đâu. Chỉ có một điều là nó chẳng
sợ thằng nào, không ai dọa nạt nó được, cứng đầu cứng cổ. Nó được chính
thức mang danh hiệu đầu bò bắt đầu từ ngày nó đánh lộn với thằng Lang.
Thằng Lang trên Chợ Mới, học nhu đạo tới đai nâu, quả thật tới đai nâu
hay chưa thì chẳng có thằng nào biết, nghe nói mỗi chiều cha nó chở nó
đi học nhu đạo tại võ đường của ông "Út Mô-tô". Thấy tướng tá cao lớn
của nó thằng nào cũng ớn. Nó lại hay bắt nạt tụi tôi. Một hôm không
biết sao thằng nầy lại đến gây sự với tôi. Tôi tảng lờ đi chỗ khác,
nhưng thằng nầy cứ lẽo đẽo theo đá vào đít tôi. Thằng Minh thấy vậy
nhảy tới can thiệp. Thằng Lang quay qua gây sự với thằng Minh. Tôi bảo
với thằng Minh thôi nhịn đi cho qua chuyện, nhưng nó không chịu vì nghĩ
rằng thằng nầy sẽ làm tới. Hai đứa nó hẹn nhau ra sân đá banh dưới cầu
Trịnh Minh Thế thanh toán nhau sau giờ học. Khi tan trường, tôi đi với
thằng Minh ra điểm hẹn. Ngoại trừ con gái, còn bao nhiêu con trai đều
ra đó coi trận quyết đấu của hai tay cự phách nầy. Bây giờ coi trận
thách đấu của Hollyfield và Mike Tyson, tôi nhớ lại hình ảnh của thằng
Minh và Lang thuở nhỏ. Tâm trạng cả hai thằng lúc ấy cũng lo sợ lắm,
nhưng đã lỡ rồi làm sao rút lui. Trước trận đấu tôi nhìn mặt thằng Minh
thử có đổi sắc hay nao núng gì không. Tôi thấy nó làm bộ tỉnh bơ nhưng
khi cầm tay nó, tôi thấy nó hơi run. Thật tôi nghiệp. Còn thằng Lang
thì mặt mày xanh dờn. Nó biết rằng sau trận nầy, nếu nó thua, nó hết
còn lên mặt hay dọa dẫm tụi tôi được nữa. Cử thằng Tùng trưởng lớp ra
làm trọng tài. Thằng Tùng nầy có máu tiếu lâm nên trước khi mở màn trận
đấu, nó ra một điều kiện thật cay nghiệt cho cả đôi bên, là đứa nào
thua phải bò qua dưới háng của đứa kia.
Khi nhập trận, tôi thấy ngay thằng Lang ở thế thượng phong, nó cao
lớn hơn , đấm và đá của nó chính xác hơn, còn thằng Minh thì tay chân
quờ quạng, chỉ được có nước liều mạng. Lúc đầu thằng Lang đánh thằng
Minh tơi bời, bị đòn mấy nó cũng nhào vô như trâu húc, đến lúc thằng
Lang mệt lả người thì thằng Minh đè nó xuống quật ngược thế cờ. Thằng
Lang chịu không nổi dơ tay đầu hàng. Hai con mắt thằng Lang bầm tím,
sưng húp. Thằng Tùng lôi thằng Minh ra sợ nó say máu ngà đánh chết
thằng Lang. Thế là trận đấu ngã ngũ phần thắng thuộc về thằng Minh. Nó
đứng dang cẳng ra cho thằng Lang bò qua háng. Trên sân banh vang dội
tiếng hò reo, thằng Lang xấu hổ đứng dậy khóc tức tưởi. Cũng bắt đầu từ
đó thằng Lang không còn bắt nạt, ăn hiếp tụi tôi nữa. Phải nghiêm chỉnh
nhận xét, thằng Lang đánh lộn điệu nghệ hơn, bài bản hơn, đẹp mắt hơn,
nhưng sức khỏe lại yếu, không dai sức, mau mệt. Còn thằng Minh thì liều
mạng, bị đòn mấy cũng nhào vô đấm túi bụi, sức khỏe như trâu, dai sức
không biết mệt. Hổ danh Minh đầu bò được mấy thằng bạn nhỏ phong tặng
cho nó từ đó. Nó là một trong những thằng chơi với anh em rất chí tình,
sẵn sàng vì anh em làm tất cả những gì khó khăn, mà không than một
tiếng.
Tuổi thơ của chúng tôi ngày xưa quay đi quẩn lại, cũng chỉ mấy thứ:
bắn bi, đánh tổng, chơi u, nhảy cò cò v.v... làm chi có những thứ xe
hơi, tàu bay, tàu lửa chạy bằng điện điều khiển bởi "remote control",
làm chi có những trò "game"điện tử. Tay chân lúc nào cũng dính đầy đất
cát. Suốt ngày chỉ mặc mỗi cái quần xà-lỏn rong chơi ngoài đường, tối
về tắm rửa cũng chỉ cái quần đó mặc lại, phủi chân leo lên giường đi
ngủ. Cha mẹ suốt ngày lo kiếm cơm, kiếm cháo, không ai để ý đến con cái
thế nào. Có nhà nhiều con, họ chỉ điểm danh sơ qua trong lúc chúng lên
giường đi ngủ. Sống trong cảnh nghèo khó, chúng tôi túng thiếu mọi bề,
thèm khát đủ thứ. Mùa đông, nhà trống, áo quần đơn sơ, chịu cái lạnh
thấu xương, chăn màn không đủ ấm, chỉ đắp chiếc chiếu manh hai đầu
trống gió. Chúng tôi lớn lên từ phố nghèo xơ xác đó, nhưng bạn bè, bà
con hàng xóm thương nhau như ruột thịt, chia cho nhau từng cái vui cái
buồn. Trong xóm nhà ai có đám tang, đám cưới, là mọi người qua giúp đỡ
một cách nhiệt tình, xem mọi chuyện như nhà của mình vậy.
Gần 30 năm rời xa quê hương, biết bao nhiêu giông bão đã đè lên khu
phố nghèo khổ đó, nhưng tình cảm của những gia đình đang sống trong
những con hẻm âm u kia, vẫn còn gắn bó như ngày nào. Những thằng bạn
nhỏ ngày xưa chẳng còn được mấy đứa, bây giờ tóc đã ngả màu, còn phần
đông đã chết trong cuộc chiến. Nhưng tôi vẫn biết trong lòng chúng nó,
cũng như tôi không thể nào quên được những kỷ niệm của thời thơ ấu.
Cũng xóm, cũng làng, cũng phố mà tôi đã đi qua, nhưng không có nơi nào
giống như quê tôi, được như quê tôi. Hình ảnh khu phố nghèo, hôi mùi
cống rãnh, đã cho tôi biết bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ, của thời mới
lớn, để trong lòng tôi thuở đó những buồn vui, tiếc nuối, chứng kiến
những mối tình đi qua cuộc đời tôi của thuở thanh xuân. Nơi đây đã dạy
cho tôi những bài học quý báu về tình người, tình đời, biết trân trọng
những giá trị của thủy chung chân thật, phải dấn thân trong các công
việc xã hội, để xoa dịu những nỗi đau thương của tha nhân.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|