Bài Viết Điện ảnh

Liên Hoan Điện Ảnh Quốc Tế Rotterdam, Thành Tựu và Triển Vọng

Nhược Trần

Trong những ngày lập đông, nhiệt độ ở Hòa Lan xuống tới khoảng từ 5 đến 10 độ âm. Nhiều lúc, những cơn gió Đông Bắc thổi đến mang theo những cơn lạnh cắt da - 15 độ C. Nước trên mặt hồ đông cứng thành những tảng băng lớn. Thế mà, thành phố Rotterdam lại nhộn nhịp như một ngày hội lớn. Liên Hoan Điện Aính Quốc Tế Rotterdam được tổ chức từ ngày 24 tháng 1 đến hết ngày 04 tháng 2 năm 1996 vừa tròn 25 tuổi. Trải bao thăng trầm giữa các thời đại, môn nghệ thuật thứ bảy vẫn có một sức sống mãnh liệt và đã đi được những bước thật dài.
Năm nay, trong Liên hoan điện ảnh này có tất cả 461 phim từ 60 quốc gia trên thế giới tham dự. Là một cộng tác viên, tôi có dịp theo dõi từ đầu đến cuối những diễn tiến của ngày Đại Hội. Những nhà làm phim, những nhà phê bình, diễn viên và các ký giả từ khắp mọi nơi trên thế giới hội tụ về đây tạo nên một bầu không khí thật tưng bừng và độc đáo. Ngành điện ảnh muôn đời vẫn là một trong những môn nghệ thuật kỳ diệu tạo nên bao sự lạ lùng và quyến rũ. Vui sướng thay cho những nhà làm phim đích thực khi nhìn thấy từ tờ mờ sáng trong những ngày giữa tuần, từng đoàn người chen nhau xếp hàng trước các rạp chiếu bóng để mua cho được một cái vé xem phim.

Trong Liên Hoan Điện Ảnh Quốc Tế Rotterdam năm nay có tất cả 7 phim Việt Nam tham dự dưới chủ đề Điện ảnh khu vực sông Mê-kông: Phim truyện “Thương nhớ đồng quê” và phim “Trở về” của đạo diễn Đặng Nhật Minh, phim truyện “Xích lô” và hai tiểu đoạn phim của đạo diễn Trần Anh Hùng, phim truyện “Lưỡi dao” của đạo diễn Lê Hoàng và một phim tài liệu “Chìm nổi sông Hương” của nhà làm phim Lê Mạnh Thích. Trong số phim này, hai phim “Thương nhớ đồng quê” và phim “Xích lô” được chú ý nhiều nhất. Giải Con Cọp Vàng của Liên hoan năm nay đặc biệt chỉ trao cho những nhà làm phim trẻ làm phim đầu tay hoặc phim thứ hai. Phim “Thương nhớ đồng quê” không dự giải vì Đặng Nhật Minh là một đạo diễn kỳì cựu. Phim “Xích lô” đã nhận giải Sư Tử Vàng Venise và Trần Anh Hùng là một trong những đạo diễn được mời tham dự trong ban giám khảo. Giải Con Cọp Vàng được trao cho 3 phim: “Like Grains of Sand” của Hashiguchi Ryosuke (Nhật), “Sons” của Zhang Yuan (Trung Quốc) và “Small face” của Gillies Mackinnen (Anh). Giải NETPAC (Giải nhất phim Á châu) được trao cho phim Việt Nam “Thương nhớ đồng quê” của Đặng Nhật Minh và phim “Hartbreak Island” của Hsu Hsiao Minh (Đài Loan . Giải Citroen (giải khán giả) về tay của đạo diễn Michael Rymer với phim “Angel Baby” (Uïc). Trong số 461 phim dự Liên hoan, quần chúng xem phim đánh giá phim “Thương nhớ đồng quê” của Đặng Nhật Minh vào hàng thứ 11 và phim “Xích lô” của Trần Anh Hùng vào hàng thứ 37. Một khích lệ lớn cho điện ảnh Việt Nam.

Trong những năm trước đây, một số phim truyện và phim tài liệu Việt Nam như: “Đến hẹn lại lên” (1975) của Trần Vũ - Bành Bảo, “Cánh đồng hoang” (1979) của Nguyễn Hồng Sến, “Thị xã trong tầm tay” (1983), “Bao giờ cho đến tháng mười” (1984) , “Cô gái trên sông” (1987) và “Mùa ổi” (2000) của Đặng Nhật Minh, “Thị trấn yên tĩnh” (1986) của Lê Đức Tiến”, “Hà nội trong mắt ai”, “Chuyện tử tế” (1986) và “Tiếng vĩ cầm Mỹ Lai (1999) của Trần Văn Thủy, “Gánh xiếc rong” (1989),ì “Dấu ấn của quỷ” (1992) và “Chung Cư” (2000) của Việt Linh, “Tướng về hưu” (1989) của Nguyễn Khắc Lợi, “Vị đắng tình yêu” (1991) của Lê Xuân Hoàng, “Lương tâm bé bỏng” (1992), “Ai xuôi vạn lý” (1999) của Lê Hoàng, “Xương rồng đen” (1991) của Lê Dân, “Mùi đu đủ xanh” (đoạt giải Camera Vàng ở Canes 1993, rồi giải César 1994 cho tác phẩm đầu tay và được vào chung tuyển giải Oscar 1994 cho phim ngoại quốc) của Trần Anh Hùng, “Canh bạc” (1991), “Hãy tha thứ cho em” (1994), “Ngã ba Đồng Lộc” (1999) và “Bến không chồng” (2000) của Lưu Trọng Ninh (một tài năng trẻ đầy triển vọng), “Bụi hồng” (1996) của Hồ Quang Minh, “Đời cát” (2000) của Nguyễn Thanh Vân, “Trở lại Ngư Thủy” (1999) của Lê Mạnh Thích... đã gây sự chú ý và chiếm được nhiều cảm tình của giới điện ảnh và khán giả tại một vài Liên hoan phim quốc tế. Năm nay, hai phim “Thương nhớ đồng quê” và “Xích lô” đã được giới mộ điệu đón nhận một cách thật nồng nhiệt.

Đặng Nhật Minh (người gốc Huế, lớn lên tại Hà Nội) là một đạo diễn xuất sắc ở Việt Nam hiện nay và được thế giới biết đến rất nhiều. Trần Anh Hùng (34 tuổi, người Mỹ Tho, rời Việt Nam sang Lào sinh sống từ năm 1966, hiện định cư tại Pháp) là một đạo diễn trẻ, làm hai phim truyện, cả hai đều đoạt giải quốc tế. Hai gương mặt để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử điện ảnh nước nhà.

* **


Cách đây 4 năm, lần đầu tiên Trần Anh Hùng về thăm quê hương sau nhiều năm xa cách. Việt Nam với những hình ảnh sống thực của những con người mệt mỏi, lầm than và cơ cực đang vật lộn ngày đêm để được tồn tại trong một xã hội đầy biến động, đã gây một ấn tượng khá mạnh đến tâm thức của nhà làm phim. Và đó là chất liệu và động lực để cuốn phim “Xích lô” ra đời. Theo Trần Anh Hùng: “Xích lô không phải là một phim tài liệu về xã hội Việt nam. Nó chỉ là cảm nhận của riêng tôi về những gì mà tôi bắt gặp trong lúc va chạm vào thực tế. Trong tâm tư của tôi, tôi vẫn là một người Việt Nam và phim “Xích lô” là một phim Việt Nam. Nhưng, như thế tuyệt đối không có nghĩa là cuốn phim đã trình bày đúng và đầy đủ đời sống tinh thần của nền văn hóa Việt. ‘Xích lô’ chỉ phản ánh vài nỗi suy tư phát sinh từ hoàn cảnh khá đặc biệt của tôi, một người Việt Nam có quốc tịch Pháp.”
Nhân vật Xích lô do Lê Văn Lộc (ngoài đời đạp xe ba-gác và chưa đóng phim bao giờ) thủ diễn, khá đạt. Một con người bần hàn trong xã hội, dùng bắp thịt, mồ hôi của mình để giữ lấy mạng sống. Một con người lương thiện do hoàn cảnh bị cuốn hút vào thế giới của tội ác. Trong đó, bao hình ảnh nhập nhụa của rác rưởi và bùn lầy, của thuốc phiện và gái điếm, của máu và những xác chết, của luật giang hồ mạnh được yếu thua cứ chồng chéo lên nhau. Một con người đánh mất chính mình rồi cuối cùng cũng vươn lên được từ địa ngục bởi trong người còn mang nặng bản chất lương thiện. Qua hình ảnh một tên sát nhân trước khi trừng phạt nạn nhân của mình cất lên những lời ru con êm đềm; qua thể hiện tình mẹ nồng nàn dành cho đứa con tật nguyền của mình nhưng lại tàn nhẫn đối với kẻ khác của ‘Bà chủ’; qua sự lạnh lùng và tàn bạo của ‘Nhà thơ’ mang chứng chảy máu cam mỗi khi bị xúc động mạnh: tác giả đã tạo nên những hình ảnh đa tầng, đa nghĩa đầy sức thuyết phục. Nhân vật ‘Nhà thơ’ không hiện thực trong văn hóa Việt Nam, nhưng điều đó không quan trọng, bởi, Trần Anh Hùng đã khéo léo dựng lên nhân vật này để nói đến một điều khác. Và anh đã thành công. Cuốn phim gợi lên những dữ kiện mà có thể một số người cảm nhận như cách thể hiện qua những ký hiệu mang tính biểu tượng. Nhưng điều thiết thực nhất là cuốn phim đã nói lên được sự mâu thuẫn, sự nhập nhằng giữa cái êm đềm và tàn bạo, giữa lòng nhân và thú tính, giữa thánh thiện và ác quỷ luôn tồn tại trong mỗi con người và hiện hữu trong mọi hình thái xã hội. Cuốn phim chứa đựng một triết lý hiện sinh, do đó, một người hời hợt khi xem qua một lần dễ bị dị ứng và khó lãnh hội một cách đầy đủ và trọn vẹn được.

So với phim ‘Mùi đu đủ xanh’, trong phim ‘Xích lô’, Trần nữ Yên Khê đã chững chạc hơn nhiều trong vai ‘Người chị’. Cuốn phim, nói chung khá hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật. Từ âm thanh, hình ảnh, màu sắc, sự di động ống kính cho đến việc tạo nên đám cháy giữa thành phố trong đêm giao thừa đã được dựng lên một cách tài tình. Thế nhưng, cuốn phim cũng không tránh khỏi một vài khuyết điểm. Đó là sự lạm dụng quá nhiều máu và tính bạo động. Người xem có cảm giác nặng nề, ngạt thở. Chính Trần Anh Hùng biết rõ điều đó nên anh cố đưa vào những trường đoạn như nhóm hợp ca thiếu nhi để làm dịu bớt sự căng thẳng sau một màn giết người ghê rợn. Màn bạo động cuối phim (giết một thanh niên trên sân thượng của một căn phố lầu) là một màn, theo tôi, hơi thừa. Có lẽ, đó là sự phẫn nộ tột cùng của một tên ma cô biết quý trọng trinh tiết khi hay cô bạn gái của mình bị hiếp. Và cũng có lẽ, nhà làm phim muốn chúng ta chiêm nghiệm lại đời mình trước hình ảnh một con người đi dần đến sự chết.

* **


Trái ngược với tính bạo động và đời sống ngột ngạt của Sài Gòn hiện đại qua phim ‘Xích lô’, phim ‘Thương nhớ đồng quê’ của Đặng Nhật Minh thể hiện rất rõ nét một nếp sống hiền hòa, êm đềm ‘rất đồng quê’ trên mảnh đất Việt Nam nhiều biến động. Sao bao năm chờ đợi, lần đầu tiên, tôi thật sự được xem một cuốn phim Việt Nam khá hoàn chỉnh. Dựa theo truyện của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã bày tỏ sự cảm thông, lòng trân trọng một cách sâu sắc khi dựng lên hình ảnh sống động của miền quê Bắc Việt, trong đó, những con người chân chất, những số phận hẩm hiu, thiệt thòi đủ mọi thành phần sống quần tụ bên nhau đậm đà tình nghĩa như một đại gia đình. Họ sống bình dị dưới những mái nhà tranh đơn sơ và quanh quẩn suốt đời giữa những cánh đồng, bên những nương rẫy và dưới những lũy tre làng xanh mát. Kỹ thuật, âm thanh, hình ảnh, màu sắc và nghệ thuật dựng truyện của cuốn phim đã đạt tới tiêu chuẩn quốc tế. Và nó phản ánh đậm nét tính cách và bản sắc của dân tộc.

Câu chuyện kể về một thiếu niên thôn quê 17 tuổi, tên Nhâm (do Tạ Ngọc Bảo đóng lần đầu tiên), hay mơ mộng và thích làm thơ, sống với mẹ, cô em gái và người chị dâu tên Ngữ (do cô ca sĩ hát Quan họ Thúy Hường thủ diễn, cũng lần đầu tiên). Nhâm sống an phận và lặng lẽ với ruộng đồng cho đến một hôm, Quyên (do Lê Vân đóng), cô gái cùng làng, đẹp, trưởng thành từ Mỹ trở về thăm lại quê hương. Quyên đã sinh ra và lớn lên tại ngôi làng này, và do một một dịp tình cờ theo bố ra Hà Nội sinh sống. Sau đó, do hoàn cảnh đưa đẩy, Quyên theo gia đình vượt biên và hiện định cư tại Mỹ. Sự trở về của Quyên đã tạo nên bao sự ngỡ ngàng và nhất là gây một tác động rất lớn đến tâm hồn ‘mới lớn’ của Nhâm. Nhâm đưa Quyên đi thăm làng, thăm những người thân quen - mà mỗi nhân vật là một điển hình cho một số phận - thăm đồng ruộng, thăm dòng sông chảy quanh làng. Trước sự chững chạc, tự nhiên và vẻ đẹp quyến rũ của Quyên, lòng Nhâm bỗng dao động. Rồi biến cố xảy ra, cô em gái và cô em họ của Nhâm bị chết trong một tai nạn xe hơi. Mọi người đau lòng. Quyên phải trở về bên Mỹ. Làng quê nghèo nàn tiếp tục đi tới bằng những bước đi thăng trầm.

Phim ‘Thương nhớ đồng quê’ là một cuốn phim thật đẹp, đầy cảm xúc và khá đặc sắc. Có lần, đạo diễn Đặng Nhật Minh tâm sự: “Tôi là người chỉ thuần túy làm văn nghệ. Tác phẩm của tôi làm ra trước tiên là cho mình, cho bạn bè và những người thân quen, sau đó là cho những số phận hẩm hiu trong xã hội. Mặc dù chưa thực sự sống ở thôn quê bao giờ, nhưng có lẽ những mảnh đời, những hình ảnh đồng quê đã in sâu vào tiềm thức của tôi sau những lần tôi thăm viếng. Tôi rất yêu quý những người dân quê luôn bị thiệt thòi trong cuộc sống. Từ thời chiến tranh đến thời hòa bình, trong lúc còn chế độ bao cấp hay khi đất nước phát triển theo cơ chế thị trường tự do, người dân quê bao giờ cũng vẫn là nạn nhân của thời cuộc. Khi làm phim, ký ức của tôi trỗi dậy là sự kết tinh giữa vốn sống và tâm tình của tôi đối với quê hương, đối với những con người mà tôi trân quý. Qua cuốn phim này, tôi chỉ muốn gợi lên một điều là trong chúng ta, dù đang thành đạt trong bất cứ lãnh vực nào, xin đừng quên những dân quê, người đã tạo ra hạt cơm cho ta ăn hàng ngày.” Tâm hồn của Đặng Nhật Minh là một tâm hồn đẹp và lương thiện. Tôi chia sẻ với anh nỗi lo ngại về sự ‘xâm nhập’ của nền ‘văn minh thành thị’ làm biến chất dần nếp sống truyền thống của thôn quê.
Qua cuốn phim, ta thấy được sự tinh tế của đạo diễn. Anh đã khai thác tâm lý nhân vật khá sâu sắc và mọi người đều diễn một cách rất thật, rất tự nhiên. (Trong nhiều phim truyện Việt Nam, hầu hết các diễn viên được đào tạo chính qui đều diễn xuất và đối thoại một cách rất ư là ngớ ngẩn và kịch tính).
Điểm qua một số nhân vật điển hình trong phim: Một ông chú xuề xòa, háo sắc nhưng bộc trực, phẫn uất điều gì là lăm le trên tay con dao nhưng chẳng bao giờ muốn giết ai, và khoái trá khi lần đầu tiên xem màn biểu diễn Thi hoa hậu trên màn ảnh truyền hình; một ông giáo thâm trầm ‘9 bỏ làm 10’; một cô gái điếm làm lẽ nhưng vẫn biết quý trọng tình nghĩa hơn tiền bạc; một thầy giáo làng yêu nghề băn khoăn về nỗi khổ nhọc của người dân quê trước cuộc sống phồn hoa của đô thị; một chị Loan quá bụa khi tuổi đời còn quá trẻ (chồng chết trong chiến tranh) rất chịu đựng và cứ mỗi sáng khi gà vừa gáy, quẳng gánh hàng đón đò qua sông cho kịp buổi chợ phiên; một thiếu phụ đứng giữa làng chửi đổng khi hay chồng mình bị cô gái điếm quyến rủ; một cô bé ‘em biết nhưng không nói’ chết đi như sự sống mong manh của một đời người, của những con cá giẫy chết trên đồng ruộng khô; đặc biệt là Nhâm qua những xúc động tâm lý đầu đời, với một nụ cười hồn nhiên, một sự ngỡ ngàng sung sướng khi lần đầu nhìn thấy cô gái đẹp cởi trần tắm sông, hay một cảm giác đê mê khi ủ chiếc áo của người con gái ấy vào mặt để ngửi, rồi một cơn thẹn thò, hốt hoảng bỏ chạy khi bị cô gái bắt quả tang, một lần xuất tinh ‘đã làm người lớn’ trong vòng tay hôn mê của chị Ngữ dưới ánh trăng vàng vọt trong đêm đập lúa, một đêm đi soi ếch dưới cơn mưa tầm tã, và một cánh thư thả vào không gian; nụ cười vuốt ve và kiêu hãnh rất kín đáo của Quyên khi phát hiện Nhâm yêu thầm mình, một nỗi thương tâm hằn trên nét mặt qua làn khói thuốc của một kẻ có đủ đầy vật chất mãi đi tìm hạnh phúc nhưng vẫn chưa tìm gặp; và Ngữ, một cô thôn nữ nghèo, cô độc và nhẫn nhục, muốn vươn lên nhưng vẫn không vượt khỏi số phận, một số phận hẩm hiu trong nỗi khắc khoải của những nàng ‘Tô Thị’ suốt đời chờ chồng, một sự khao khát của những đòi hỏi sinh lý và nhu cầu làm mẹ qua hình ảnh em chồng, qua sự âu yếm với đàn chim con, thật tuyệt vời, thật ‘erotic’ nhưng rất nghệ thuật; hai người phụ nữ điển hình, hai số phận trái ngược, nhưng có cùng một tâm trạng: cả hai đều không được hạnh phúc. Tất cả những hình ảnh trên đã được đạo diễn Đặng Nhật Minh dựng lên và thể hiện một cách rất ‘người’. Một buổi cúng đình, một đêm xem múa rối nước, một đám tang trên đường làng, mọi thứ đều rất ‘đồng quê’. Và đây là một cuốn phim ‘gợi nhớ về cội nguồn’.
Đặng Nhật Minh có tài dựng nên một cuốn phim hay, đầy chất thơ. Và ta sẽ bất công nếu không trân trọng nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người đã tạo nên nhiều tác phẩm văn học bất hủ.
* *
*
Điện ảnh Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm. Trước năm 1975, các loại phim được phát hành tại miền Nam còn khá non kém, chỉ vừa mới chập chững trưởng thành, phần lớn đều bị ảnh hưởng bởi điện ảnh của Mỹ. Miền Bắc chỉ sản xuất những bộ phim mang tính tuyên truyền hoặc phim phục vụ chiến tranh. Khoảng một thập niên gần đây, một số phim truyện có giá trị nghệ thuật đã ra đời. Trong thời bao cấp, nhà nước tài trợ hoàn toàn cho ngành điện ảnh để thực hiện những loại phim đúng theo quan điểm, đúng theo ‘khẩu vị’ của các ông quan cách mạng. Từ khi có chính sách đổi mới, một số hãng phim và một số nhà làm phim đã tách ra làm riêng. Vì tài chính eo hẹp, kỹ thuật còn quá lạc hậu, những nhà làm phim này đã gặp nhiều khó khăn, một số nhỏ đã bung ra làm phim thương mại để kiếm sống. Nhà nước chỉ tài trợ nhỏ giọt và tiêu chuẩn mỗi năm chỉ cho ra khoảng 10 bộ phim truyện. Cạnh đó, do sự kiểm duyệt khắt khe, một số nhà làm phim thực tài đã bất lực chịu bó tay khi kịch bản của họ bị phê là có ‘vấn đề’. Từ khoảng năm 1990 đến cuối năm 1994, giữa một nền kinh tế thị trường khập khiễng, nhiều giá trị xã hội đã bị suy sụp. Ngành điện ảnh cũng mang cùng một số phận. Những loại phim giaií trí đấm đá của Mỹ, của Hồng Kông xâm nhập vào nội địa. Những loại phim thương mại rẻ tiền tràn ngập thị trường. Xã hội bị cuốn hút bởi đồng tiền. Con người bận lo làm ăn kiếm tiền nên ít có thời giờ để thưởng thức những loại phim có giá trị nghệ thuật đích thực. Trong một xã hội thực dụng hóa trên nhiều phương diện, sự thẩm thức về nghệ thuật đã bị hạ cấp đến mức báo động. Sự phổ biến của phim video cũng góp phần đẩy khán giả xa dần với các rạp chiếu bóng. Nhiều khi vào buổi trưa, thiên hạ mua vé xem phim chỉ để được vào rạp đánh một giấc ngon lành sau những giờ phút làm việc mệt nhọc. Nhiều cặp tình nhân dẫn nhau đi xem phim chỉ là tìm nơi kín đáo để làm... tình nhẹ trong bóng tối. Cô Ngô Phương Lan, nhà phê bình điện ảnh có nhiều uy tín cho biết: “Hiện nay, cả nước có khoảng 500 rạp chiếu bóng, nhưng khoảng 80% các rạp này đã hoặc ngưng hoạt động hẳn, hoặc đã chuyển sang các kiểu kinh doanh hay dịch vụ làm ăn cò con khác. Người xem bỏ rạp làm cho rạp kiệt quệ, hoang tàn. Nhưng chính bản thân họ cũng ‘đói’ phim hay, rạp tốt. Năm 1995 là năm điện ảnh Việt nam có những sự chuyển mình. Điển hình nhất là sự ‘hết mùa’ của phim thương mại mà người ta còn gọi là phim ‘mì ăn liền’. Sau mấy năm tìm đủ cách câu khách, đến nay dường như các chủ phim này đang bị chết dở. Khán giả đã ngấy cái món ăn nhiều khi rất hổ lốn này nên tự động rút lui. Thế là các xu hướng mà bao người từng lo ngại và đánh đồng như thương mại hóa điện ảnh (chạy theo đồng tiền) và nghiệp dư hóa điện ảnh (bỏ qua yếu tố nghề nghiệp) cũng theo đó mà tan biến đi.” Một sự kiện đáng mừng cho những nhà làm phim chân chính. Nhà nước cần chú tâm nhiều hơn trên phương diện tinh thần và tài chính. Giảm bớt sự can thiệp nhiều khi rất bất công vào sinh hoạt nội bộ của những người làm văn nghệ. Đặt những người có tâm huyết, có khả năng chuyên môn vào đúng vị trí để họ có cơ hội thi thố tài năng của mình. Điều phi lý là những năm gần đây, phim Việt Nam được thế giới đánh giá cao và đón nhận một cách nồng nhiệt, thế mà, tại trong nước, chính quyền và người dân lại quá lạnh nhạt và thờ ơ. Cô Ngô Phương Lan nói thêm: “Đã đến lúc cần phải quy hoạch, nâng cấp mạng lưới rạp chiếu và cải tổ lại hệ thống quản lý chiếu bóng. Bởi khán giả đến rạp là để hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, thưởng thức các tác phẩm điện ảnh đạt yêu cầu về chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật chứ không phải mất tiền để nuốt những thứ hổ lốn, được xào nấu lại một cách sống sượng như hàng loạt phim giải trí trong mấy năm qua. Và, tiền thu được từ việc chiếu phim phải được quay lại để ‘nuôi’ điện ảnh như một quy luật tự nhiên của nhiều nước. Điện ảnh đang phải đương đầu với đầy rẫy những khó khăn nhưng không thể bị diệt vong. Triển vọng của điện ảnh còn dồi dào bởi nó sẽ tiếp tục đi trên những con đường đã được hình thành trong 100 năm qua để tìm kiếm và khai phá những vùng đất mới trong thế giới ngôn ngữ điện ảnh giàu có và đầy bí ẩn.”

(Hòa Lan, đông 1996.
Bổ sung đầu năm 2001)

Nhược Trần


Số Lần Chấm:  
6

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,742
Nguồn:
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: Hùng Lâm
Người sửa: TVMT 7/25/2003; CaNgo 1/28/2003 5:33:20 PM