|
Hàng năm cứ vào đầu xuân, hoa anh đào lại bắt đầu nở rộ ở thủ đô Washington. Đây là một thắng cảnh thu hút rất nhiều du khách.
Chỉ 4 giờ lái xe từ New Jersey đến Washington DC, chúng tôi thường hay đi xem hoa nở vào mỗi độ xuân về. Ở xứ New Jersey lạnh lẽo này, không được cảnh nắng ấm như bên Cali thì cũng phải “tuỳ duyên” để tìm được niềm vui như mùa xuân đi ngắm hoa anh đào, mùa hè xuống Delaware thưởng thức “cua lột”, mùa thu lên Vermont nhìn cảnh lá vàng và mùa đông thì đi trượt tuyết ở vùng núi Pocono ở Pennsylvania.
Ngoài việc thưởng ngoạn hoa anh đào nở, các bảo tàng viện và các đài tưởng niệm tại thủ đô Washington cũng là những điểm tham quan. Đứa con gái út của chúng tôi gần bảy tuổi và từ lớp một, giáo dục của Mỹ đã bắt đầu giới thiệu về các tư tưởng tự do, bình đẳng, không phân biệt kỳ thị nên cháu cũng đã biết đến tên mục sư Martin Luther King Jr với bài diễn văn lịch sử “I have a dream” đọc tại Đài tưởng niệm Tổng thống Lincoln, cho nên đưa cháu đến xem tận nơi những chỗ đã được học cũng là mục đích của chuyến đi.
Do đã vài lần đến các điểm tham quan ở Washington DC, đứa con gái lớn của chúng tôi nay đã vào đại học, vốn rất thích lịch sử, yêu cầu đến vùng Virginia xem nhà di tích và đồn điền của George Washington và viếng Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Do ưu tiên đi đến các điểm “lý thú” hơn, nên hai điểm này được xem là “nice to have” (được thì tốt), thuộc loại ưu tiên thấp và chỉ ghé thăm nếu có thời giờ. Nhất là đứa con út và vợ tôi khi nghe đi viếng nghĩa trang thì coi bộ không ủng hộ vì cho rằng không có gì hấp dẫn cả, mặc dù đứa con gái tôi cố thuyết phục và năn nỉ là chúng tôi sẽ ngạc nhiên khi biết bao nhiêu điều học được từ những ngôi mộ.
May mắn là chúng tôi đã có hai ngày tuyệt đẹp và dường như đã viếng hết những nơi định xem nên buổi chiều trên đường về lại New Jersey chúng tôi đồng ý sẽ ghé đến thăm Arlington. Điều khá ngạc nhiên đầu tiên với tôi là tuy xem nhiều đám tang trực tiếp truyền hình tại Nghĩa trang Arlington nhưng tôi vẫn bất ngờ với Arlington ngoài thực tế, rộng lớn, thiết kế hài hoà và có một vẻ đẹp khó diễn tả.
Đứa con gái tôi theo bản đồ đi đến những ngôi mộ mà cháu thích, và xem ra gia đình có vẻ không chia sẻ lắm với các quan tâm nên cháu hỏi chúng tôi có muốn đi xem mộ ai không. Với kiến thức nghèo nàn của tôi về lịch sử Mỹ, chỉ biết đến các tên tuổi những tổng thống gần đây hoặc những ai đã có liên quan đến chiến tranh Việt Nam, cho nên trong các đề nghị chỉ có vài tên chúng tôi có nghe đến và chúng tôi chọn đến ngôi mộ của gia đình Tổng thống Kennedy và mộ của đội phi hành vũ trụ Challenger…
Nhìn mộ của John F. Kennedy và Jacqueline, một đôi uyên ương “trai tài gái sắc” nay chỉ còn là hai bia mộ, cũng thấy ngậm ngùi cho lẽ “vô thường” ngắn ngủi của cuộc đời – cùng nằm cạnh hai đứa con chết sớm của họ, một ngọn lửa vĩnh cửu lung linh. Mộ nằm dưới chân một ngọn đồi và lên đỉnh khoảng hơn một trăm tam cấp là một ngôi nhà, thấy nhiều du khách đi lên tôi cũng tò mò hỏi con gái tôi ngôi nhà gì ở trên đỉnh đồi, cháu nhìn vào bản đồ và reo lên: “Ô! Đó là nhà của Robert Lee. Con phải đi xem! Con phải đi xem, Ba có đi không?”. Thấy con rất thích thú mà mình lại chẳng biết ông Lee là ai cả nhưng tôi vẫn “open” để biết, nhất là không muốn làm cụt hứng sự thích thú của con tôi, nên đồng ý đi và hỏi “nhưng Robert Lee là ai vậy?” Cháu nhìn tôi hơi ngạc nhiên “Don’t you know him?” (Ba không biết sao?). Tôi thành thật trả lời: “Ba không biết, ba đâu có học lịch sử Hoa Kỳ.”
Trên suốt hơn một trăm bậc thang khéo léo thiết kế dẫn lên đỉnh đồi đến ngôi nhà, cháu nó cho tôi biết Robert Lee là một anh hùng và đủ thứ chuyện khác về cuộc nội chiến Nam Bắc của Mỹ, và tôi bắt đầu chú ý khi nghe đến một vài chi tiết trong cuộc đời của vị tướng này làm tôi liên tưởng đến cuộc chiến của hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Con tôi làm tôi chú ý hơn khi đưa ra nhận xét là trong số bao nhiêu người lãnh đạo của miền Nam Hoa Kỳ bị thất trận, không có mấy người được nhớ, được lịch sử nhắc đến và được ngưỡng mộ như tướng Robert Lee.
Lên đến đỉnh đồi, tôi thấy một quang cảnh khá ngoạn mục. Thủ đô Washington nằm xa xa bên dưới, nổi bật lên là ngọn tháp Bút Chì (Đài tưởng niệm Washington), Đài tưởng niệm Tổng thống Lincoln, Điện Capitol, phía bên phải là Lầu Năm góc, từ đỉnh đồi nhìn xuống là toàn cảnh các ngôi mộ, xen lẫn những cành hoa anh đào trắng nở rộ. Khung cảnh yên tĩnh, lắng đọng, có một cái gì đó thanh thoát. Chúng tôi đứng trước căn nhà của Tướng Robert Lee. Trong khi chờ để vào bên trong tham quan, chúng tôi xem một khu vườn thật đẹp, tìm thấy nhiều điều lý thú từ các ngôi mộ chung quanh từ thế chiến thứ nhất. Sau khi chú tâm xem tóm tắt về địa danh và con người, tôi thật sự bắt đầu bị thu hút khi đọc đến những dòng ca ngợi vắn tắt vì sao từ một vị tướng thất trận của miền Nam Hoa Kỳ trong cuộc nội chiến, trải qua bao nỗi đau của một kẻ bại trận, chịu đựng bao cay đắng, bất công mà phía thắng trận gây ra, Robert Lee trở nên vĩ đại, tôi bỗng liên tưởng ngay đến cuộc chiến Việt Nam. Những thuyết minh về tiểu sử của tướng Robert Lee và căn nhà “Lee mansion” làm tôi thấy có gì đó giống như những gì tôi đã nhìn thấy trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua.
Ngôi nhà lịch sử tôi đang đứng xem và phía dưới là toàn bộ nghĩa trang Arlington đã từng là tài sản của ông, đặc biệt là căn nhà này – Arlington house – là căn nhà ông yêu mến nhất, với bao kỷ niệm gắn bó, nhưng bị “luật thuế” của miền Bắc tước đoạt. Không phải chỉ Robert Lee, mà có lẽ tất cả những người miền Nam đã tham gia trong cuộc chiến đều là đối tượng bị ngược đãi và đối xử bất công. Robert Lee là một vị tướng chỉ huy của quân đội miền Nam chống lại quân miền Bắc của Tổng thống Lincoln. Ông đã nắm giữ và chỉ huy các trận đánh chiến lược trong cuộc nội chiến Bắc - Nam, và ông rất tin tưởng ở chính nghĩa của miền Nam. Thua trận và bị đối xử như một tù binh, nhưng ông đã giữ nghĩa khí của một vị tướng từng là Tổng chỉ huy Quân đội miền Nam. Những giới thiệu ngắn gọn về Robert Lee đã tạo cho tôi một ấn tượng khi đọc thấy dòng tuyên dương của Quốc hội Mỹ về ông:“Không một ai ở miền Nam có thể mẫu mực hơn Robert Lee trong việc mang lại sự đoàn kết cho tổ quốc chúng ta.”
Một viên tướng bại trận đã vượt lên những cay đắng để đem lại sự đoàn kết và phục hồi cho quốc gia sau đổ vỡ của chiến tranh huynh đệ tương tàn!
Chúng tôi lang thang trong nghĩa trang một thời gian nữa và xem thêm một vài ngôi mộ nổi tiếng khác, nhưng không hiểu sao tâm trí tôi cứ nghĩ đến vị tướng miền Nam này với những suy nghĩ và hành động cao quí vì nghĩa cả mà cách đây mới nửa giờ tôi chẳng biết gì. Với hiểu biết rất hạn chế về lịch sử Hoa Kỳ, tôi vẫn luôn thấy rằng nước Mỹ này thật vô cùng may mắn khi đã có bao nhiêu lãnh tụ tài ba (nhất là những người sáng lập ra Hợp chúng quốc Hoa Kỳ), xuất sắc trong những tư tưởng và hành động cao quý để mang lại cho dân chúng của đất nước này bao nhiêu lợi ích, phồn vinh, và nay tôi lại biết thêm một vị tướng với suy nghĩ sáng suốt, vượt lên cái bình thường của một bại tướng để kêu gọi mọi người bỏ qua quá khứ, cùng nhìn về tương lai cho một quốc gia hùng mạnh.
Trạm dừng chân trước khi lái xe về New Jersey phải là trung tâm Eden, khu thương mại phồn thịnh của người Việt Nam tại Virginia và Washington DC, từ cổng vào tôi nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam – Việt Nam Cộng hoà – bay phất phới, trong trung tâm các con đường nhỏ mang tên các vị tướng của quân lực miền Nam đã tử thủ và hy sinh trong những ngày cuối cùng khi miền Nam sụp đổ. Ngồi trong quán ăn Việt Nam, tôi tình cờ nghe những người ngồi kế bên nhắc đến là cũng đã sắp đến 30/4, Ngày Quốc hận, và bàn tán đến các chương trình kỷ niệm.
Trong khi chờ đợi, vợ tôi phải qua các tiệm để mua đủ thứ các thức ăn Việt Nam mà ở trên New Jersey chúng tôi không dễ tìm thấy, tôi lấy vài tờ báo tiếng Việt đọc xem. Phần lớn đều đưa tin việc xử án linh mục Nguyễn Văn Lý với tấm hình linh mục bị công an Việt Nam bịt miệng tại toà, các hình ảnh của cuộc di tản năm 75, nhân 30/4 sắp đến. Hai câu chuyện tôi xem kỹ hơn là việc đến nay vẫn còn tranh cãi về chuyến đi của thiền sư Thích Nhất Hạnh về Việt Nam lập trai đàn giải oan, và bài báo dài nói về cuốn phim đã được nhiều người nhắc đến, tựa đề tiếng Việt là Vượt sóng, tựa đề tiếng Mỹ là Journey From The Fall, kể lại cảnh khổ cực, đoạ đày của bao nhiêu người miền Nam sau ngày thất trận. Bài điểm phim với những cảnh trong phim như cảnh tù cải tạo, cảnh vượt biên, làm tôi liên tưởng lại những tháng ngày đen tối và cực khổ nhất của gia đình tôi và của chính tôi.
Trên đường lái về lại New Jersey bao nhiêu hình ảnh lẫn lộn, một bài học mới của cuộc nội chiến Mỹ, số phận của một vị tướng bại trận, hình ảnh gợi nhớ lại những ngày sau 30/4 năm 75, bài báo về phim Vượt sóng với những hình ảnh và tình tiết mà phần lớn các gia đình di tản đều thấy phần nào đó có mình trong đó.
Tôi vẫn không quên cảnh vượt núi bao ngày để đi thăm nuôi ba tôi khắp các trại cải tạo khét tiếng như Na Sơn, Bầu Bàn, Tiên Lãnh trong các vùng núi Trường Sơn, rừng thiêng nước độc ở Quảng Nam. Như mới thấy hôm qua, hình ảnh tấm thân gầy còm của ba tôi quẳng gánh mấy thứ đồ ăn khô khuất sau núi mà tôi cố gắng nhìn theo và luôn sợ rằng đó là hình ảnh cuối cùng của cha tôi, và không biết còn bao giờ gặp lại. Những giọt nước mắt lăn dài, tấm thân tiều tuỵ của má tôi vì quá cực khổ sau ngày “được giải phóng”, nhìn đàn con từng đứa một trở nên thất học bởi cha là nguỵ quyền - những ngày gian khổ, lặn lội thăm nuôi chồng, con ở “hai đầu” – thăm chồng trong trại cải tạo Quảng Nam, và thăm con bị tù ở tận Kiên Giang, Rạch Giá. Rồi căn nhà cả một đời công chức dành dụm của na má tôi bị tịch thu và gia đình tôi bị đuổi đi vì bị cho là tài sản của Mỹ nguỵ (dù chúng tôi có đầy đủ chứng từ cho thấy ba tôi mua đất từ 1950, dành dụm cả 10 năm cho đến khi xây xong căn nhà vào năm 1960, 5 năm trước khi Mỹ bắt đầu đến Đà Nẵng năm 1965!). Tôi vẫn còn giữ trong ngăn kéo bản gốc lệnh tịch thu nhà. Vào 2 giờ khuya, Ủy ban Phường đến đọc lệnh tịch thu nhà, đuổi ra khỏi nhà và buộc gia đình tôi phải đi kinh tế mới trong lúc em gái tôi đang sắp đến ngày sinh nở, từ Vĩnh Long đang về nhà mẹ. Lệnh tịch thu nhà ban hành khi ba tôi đã được “cách mạng khoan hồng” sau gần 10 năm trải qua khắp các trại cải tạo, và bị điếc khi được thả do tác dụng của các viên “ký ninh” để chống chọi với sự hoành hành của bệnh sốt rét rừng. Người bác sĩ cùng trại cải tạo vẫn không hiểu làm sao ba tôi lại sống sót được, nhất là khi ông đã chứng kiến cảnh ba tôi “á khẩu”, dấu hiệu của sự cận tử.
Khi viết những dòng chữ này tôi vẫn còn nhớ những nỗi đau, mất mát của gia đình tôi sau ngày 30/4 1975, phần tôi sau hơn 17 năm cũng trải qua nhiều tập của “con đường đau khổ”, bất lực khi nhìn thấy gia đình và đàn em chịu đủ sự bất công. Những tổn thương về tâm lý, thể lực, tinh thần do chính sách của kẻ chiến thắng miền Bắc đã gây cho chính tôi và gia đình là không thể nào bù đắp được, những cơn ác mộng thỉnh thoảng vẫn hiện về trong đêm do nỗi sợ hãi thường xuyên sau 75 vẫn còn trong tiềm thức. Tôi càng thấm thía sự mất mát khi đến được đất Mỹ này với ý thức là thời thanh xuân, sung mãn về trí tuệ và thể lực của tôi đã vĩnh viễn bị cướp đi. Hiện nay từng ngày tôi vẫn còn cảm thấy các hậu quả lâu dài của chính sách phân biệt đối xử đối với “con cái của nguỵ quân nguỵ quyền”, có lẽ những gì lúc trai trẻ bị đè nén, chịu đựng, và vượt qua được thì nay đã đến lúc trỗi dậy khi qua ngưỡng tuổi “tri thiên mệnh” – và tôi lại nghĩ đến Tướng Lee, chắc ông cũng bị đắng cay không kém, còn mất mát nhiều hơn, nhất là khi ông thực sự rất tin vào chính nghĩa trong cuộc chiến đấu của ông, và từng ở cương vị của tổng chỉ huy!
Tôi chắc không thể nào quên nhưng đã cố học theo nhiều người trong đó có cả ba tôi, để bỏ qua sân hận đối với những người đã gây đau đớn, mất mát cho mình. Tôi đã tìm thấy đâu đó lời dạy của Phật, và đã từ lâu tâm nguyện bỏ qua, cố cho tâm không còn vướng mắc để được thanh thản như bài thơ “Nhạn quá trường không”, nhưng cuộc đấu tranh “sân si” vẫn còn âm thầm diễn ra trong vô thức, chắc có lẽ vì thế mà tôi dễ dàng cộng hưởng được với câu chuyện của Tướng Lee, cảm thấy một sự đồng cảm, một lời khuyên.
Căn nhà đầy kỷ niệm ở Hội An của gia đình tôi đã bị tước đoạt, không biết ngày nào đó có được giống như tài sản của Tướng Lee, nhiều năm sau đã được “trả về cho Caesar”, nhưng có vô số những mất mát chẳng thể nào bù đắp, không hoàn trả được. Tuy nhiên khi nhớ đến câu nói của Tướng Lee từ tờ hướng dẫn tham quan: “I believe it is the duty of everyone to unite in the restoration of the country and the re-establish of peace and harmony” (Tôi tin rằng nhiệm vụ của mỗi người là đoàn kết trong việc hồi phục lại quốc gia và thiết lập lại sự hoà bình và hoà hợp), tôi mong ngày nào đó khi căn nhà của gia đình sẽ được “Châu về Hiệp phố”, tôi sẽ biến nó trở thành một thư viện cho thị xã, vốn chưa hề có, để đáp ứng một nhu cầu thiết yếu mà tôi hằng mong muốn làm được gì cho phố Hội, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên, và biết đâu đó là một biểu tượng cho sự đoàn kết, hoà hợp cho phố Hội của tôi, như tôi vừa học được của Tướng Lee – không chỉ bằng lời nói mà ông thực sự làm gương và khuyến khích bao người miền Nam “to raise above the bitterness of the war” (vượt lên khỏi những cay đắng của chiến tranh) – một thông điệp mạnh mẽ không chỉ đúng cho các bại binh của mình vào năm 1895, mà còn cho tất cả các nạn nhân của mọi cuộc chiến. Chính vì vậy mà căn nhà Arlington đã được chính phủ Mỹ quyết định bảo quản như một di tích lịch sử để tưởng nhớ đến vị tướng này. Tướng Robert Lee đã vượt lên khỏi những vướng mắc, ràng buộc, đắng cay của một bại tướng miền Nam để đóng góp cho sự đoàn kết của tổ quốc và sự phồn vinh của dân tộc Hoa Kỳ, theo tôi sự can đảm này còn cao hơn cả việc xông pha chiến trận, sẵn sàng “da ngựa bọc xương”. Việc làm đó thật đáng cho mỗi chúng ta suy nghĩ trong hoàn cảnh, hiện trạng đất nước Việt Nam.
Nhìn lại cuộc chiến tàn khốc Việt Nam với chính sách sai lầm của người chiến thắng, đã gây quá nhiều đau thương, tang tóc và hận thù với đủ các mức độ khác nhau cho hàng triệu người Việt Nam, nhưng hơn ba mươi năm đã qua mà vẫn không nghe thấy những lời kêu gọi và việc làm giống như của Tướng Lee cho Việt Nam, hay là chúng quá yếu ớt so với những hành vi, xu hướng trái ngược. So sánh về mức độ của cuộc chiến, chúng ta còn cần nhiều hơn gấp bội các “Robert Lee Việt Nam” của cả hai miền. Tôi mong rằng, một ngày nào đó những suy nghĩ theo quan điểm của Tướng Lee sẽ trở thành một trào lưu, lấn át những suy nghĩ hành động theo chiều hướng tiêu cực. Nhất là những ai hiện đang có một cơ hội như Tướng Lee, vì quê hương và thế hệ của bao người sau hãy tiên phong“đoàn kết trong việc hồi phục lại quốc gia và thiết lập lại sự hoà bình và hoà hợp.”
Mong thay sự xuất hiện bao nhiêu “Robert Lee Việt Nam”!
Phần tôi, có lẽ nhờ “cơ duyên” mà tôi biết được thêm một anh hùng của dân tộc Hoa Kỳ và cảm phục những suy nghĩ và việc làm cao quý của ông. Tôi cảm thấy như tìm được một sự đồng cảm, một hướng dẫn về trí tuệ, và một lần nữa, ở một dạng khác, đã tái khẳng định những gì tôi cố thực tập theo lời của Phật về tính “xả” - Tôi biết rằng đồng ý với tư tưởng vượt lên sự bình thường và nhận thấy sự đúng đắn của nó thì dễ, nhưng vấn đề là “làm”, cho nên tôi hằng cầu mong Phật gia hộ cho tôi để không chỉ dừng ở “biết đúng, nghĩ đúng”, giúp tôi trong cuộc chiến bỏ qua sân hận, như noi theo được tấm gương, lời dạy và việc làm của Dalai Lama về sự tha thứ và tình thương cho kẻ đã tước đoạt cả quê hương Tibet của ông.
Mùa hoa anh đào năm nay không những tôi đã may mắn đi vào ngày hoa nở rộ lúc thời tiết thật lý tưởng, mà may mắn hơn nhiều là học được một tư tưởng hay từ Căn nhà Arlington, và tôi tự mỉm cười khi chợt nhớ lại câu nói của Na, con gái tôi: “You will be surprised of what you can learn from a cemetery” (Ba sẽ ngạc nhiên về những gì mình có thể học được từ sự viếng thăm một nghĩa trang).
Tôi nghĩ rằng biết đâu tôi cũng sẽ tìm thấy điều đó hay các bài học khác khi viếng một nghĩa trang của các anh hùng Việt Nam,… và với bao suy nghĩ miên man, đoạn đường dài Virginia – New Jersey dường như ngắn đi rất nhiều.
New Jersey Mùa Xuân 2007
© 2007 talawas
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|