Bài Viết Lịch sử

Gerald Ford trong trí nhớ của tôi

Vũ Ánh


Vũ Ánh

Trong đời làm phóng viên, có hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ mà tôi đã có hân hạnh bắt tay và trả lời những câu thăm hỏi của họ, đó là Tổng Thống Richard Nixon và lãnh tụ Khối Thiểu Số tại Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ Gerald Ford. Lý do cũng khá giản dị: tôi có được cơ hội tháp tùng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn chính phủ sang Hoa Kỳ để tường thuật về cuộc vận động ngoại viện lần chót vào ngày 31-3-1973. Ở vào thời điểm trên, tôi đang làm phóng viên cho Ðài Phát Thanh Saigon đặc trách tường thuật các chuyến đi trong nước và ngoại quốc của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng oái oăm là chuyến công du Hoa Kỳ của Tổng Thống Thiệu là một bi kịch không những cho đời làm chính trị của ông mà còn cho cả Việt Nam Cộng Hòa nữa.

Và có lẽ trong đời làm tổng thống của tướng Thiệu, đây là chuyến ra nước ngoài dài ngày nhất và mệt mỏi nhất của ông. Vì sau thời gian 10 ngày ở Hoa Kỳ, Tổng Thống Thiệu và phái đoàn chính phủ còn phải ghé thăm nữ hoàng Anh Elizabeth Ðệ Nhị, thăm Cộng Hòa Liên Bang Tây Ðức, thăm Ý và tòa Thánh Vatican, yết kiến Ðức Giáo Hoàng Gioan 23, thăm Ðại Hàn Dân Quốc và chặng cuối cùng là thăm Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Ðài Loan lúc đó đang bệnh nặng.

Việc xin ngoại viện 722 triệu USD của VNCH thất bại vì vào thời điểm đầu Tháng Tư-1973, uy tín của chính phủ Nixon đã xuống rất thấp do cách ông giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Phái đoàn VNCH được Tổng Thống Richard Nixon đón tiếp chính thức không phải tại tòa Bạch Ốc mà tại Casa Pacifica bên bờ biển Thái Bình Dương thuộc thành phố San Clemente, quận Cam, lúc đó được dùng làm nơi nghỉ và nơi làm việc cuối tuần của ông. Ronald Ziegler, (đã qua đời năm ngoái), Tham Vụ Báo Chí của Tổng Thống Nixon nói với chúng tôi rằng đây là “Tòa Bạch Ốc Miền Tây” khi tôi hỏi ông tại sao lễ đón tiếp Tổng Thống Thiệu lại không diễn ra ở Tòa Bạch Ốc thủ đô Washington.

Chúng tôi ở lại San Clemente cho đến 3-4-1973 thì lên đường đi Washington. Phó Tổng Thống Spriro Agnew đã đại diện Tổng Thống Nixon đón tiếp Tổng Thống Thiệu ở phi trường Andrews và đưa về nhà khách Blair House, đối diện với tòa nhà Hành Pháp. Buổi sáng ngày 4-4-1973, Tổng Thống Thiệu tiếp Phó Tổng Thống Agnew và sau đó đến Trưởng Khối Thiểu Số tại Hạ Nghị Viên Gerald Ford đến thăm tại nhà khách. Phó Tổng Thống Agnew thì không gây cho chúng tôi một ấn tượng nào mạnh mẽ, nhưng Gerald Ford đã khiến tôi khó lòng quên được ông: dáng dấp cao lớn, mặt phúc hậu, ăn mặc giản dị, miệng luôn luôn ngậm pipe, nói năng từ tốn và lịch thiệp. (Ông là người được nhiều tuần báo ở Mỹ bầu là người ngậm pipe đẹp nhất). Gặp báo chí ở phòng ngoài trước khi vào phòng khách gặp Tổng Thống Thiệu, ông Gerald Ford bắt tay từng người. Ðến phiên tôi, không hiểu sao ông lại nói: “Rất tiếc, các ông tới thăm nước Mỹ vào lúc quốc gia này không giống những gì quý ông trông đợi”. Có lẽ ông nhìn vào tấm thẻ báo chí do cơ quan an ninh Tòa Bạch Ốc cấp phát cho chúng tôi thấy tên tôi Việt Nam và cơ quan làm việc là Radio Saigon biết chúng tôi là đoàn báo chí tháp tùng Tổng Thống Thiệu từ Việt Nam nên mới nói vậy, một hàm ý cho thấy nước Mỹ cũng đang nát bét nên không thể giúp gì đồng minh VNCH được nữa. Một ký giả Mỹ của đài truyền hình CBS mau miệng hỏi xem ông có nghĩ là tình hình Việt Nam không còn hy vọng gì không, thì ông trả lời rằng, ông không có gì bình luận về chuyện này nhưng ông nghĩ rằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh đang tiến triển và sẽ hoàn tất vào năm tới (1974). Lần thứ hai tôi được nhìn và bắt tay ông là nhân dịp Quốc Hội Hoa Kỳ mở cuộc tiếp tân tại Capitol Hill (nếu tôi nhớ không lầm là vào tối ngày 5-4-1973). Trong buổi tiếp tân này, tôi thấy ông Ford và Chủ tịch công đoàn AFL-CIO George Meany (1955-1979) nói chuyện cũng khá lâu với Tổng Thống Thiệu. Dĩ nhiên, ngoại trừ 3 người, không ai biết họ nói gì với nhau ở vào thời gian 2 năm trước khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Cũng vào buổi tối tiếp tân này, tôi có xin được chụp chung với các ông Gerald Ford và George Meany một bức hình. Bức hình đã bị mẹ tôi cho vào lò lửa vào trưa 30-4-1975 vài giờ sau khi Saigon thất thủ, cùng với mớ hình ảnh kỷ niệm trên chuyến bay Air Forces One từ Washington đi San Antonio nhân dịp Tổng Thống Thiệu xuống thăm mộ phần của cố Tổng Thống Lyndon B. Johnson. Bà hành động nhân danh một người mẹ như thế cũng phải vì những kỷ niệm đó tuy quý giá nhưng có thể trở thành quốc cấm đối với những người Cộng Sản khi họ chiếm được Miền Nam.

Giữa Tháng Mười Hai năm 1973, Gerald Ford được Tổng Thống Nixon chỉ định vào chức vụ Phó Tổng Thống thay thế Phó Tổng Thống Spiro Agnew vì ông phó này bị cáo buộc tội trốn thuế phải từ chức. Ðến Tháng 8 năm 1974, ông trở thành Tổng Thống thứ 38 của Hoa Kỳ sau khi Tổng Thống Nixon phải từ chức vì vụ Watergate. Việc ông Ford ngồi vào chiếc ghế Tổng Thống là một biến cố đầy oan khiên đối với chính ông, một người mà chỉ không đầy nửa năm sau khi cầm quyền đã phải ra lệnh di tản 237,000 người Việt Nam trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Bối cảnh của nước Mỹ từ lúc ông Gerald Ford còn là trưởng khối thiểu số tại Hạ Nghị Viện cho đến khi trở Tổng Thống thứ 38 của Hoa Kỳ là một nước Mỹ tan nát, là một nước Mỹ rối tinh rối mù sau khi Phó Tổng Thống Spiro Agnew bị cáo buộc trốn thuế phải từ chức, rồi lại tới phiên chính Tổng Thống Nixon phải từ chức vì vụ tai tiếng khó lòng tha thứ được. Ngay trong buổi tiếp tân tại trụ sở Quốc Hội Mỹ để chào đón Tổng Thống Thiệu Tháng Tư-1973, Chủ tịch Công Ðoàn AFL-CIO, George Meany đã khẳng định rằng niềm tin của người Mỹ đối với hàng ngũ lãnh đạo thượng tầng không còn gì cả. Ông hàm ý là VNCH không nên trông mong gì hơn ở Hoa Kỳ, một siêu cường nhưng vào lúc đó chỉ còn biết lo mỗi một chuyện là làm sao rút chân ra khỏi Việt Nam một cách an toàn.

Thực ra tấn bi kịch của Việt Nam có những giai đoạn che mờ hình ảnh “bon papa” của Tổng Thống Gerald Ford. Người ta trách cứ ông và gắn liền ông vào hình ảnh của những ngày hoảng loạn tại Việt Nam, hình ảnh thua trận của nước Mỹ và VNCH. Nhưng ngồi vào ghế Tổng Thống trong hoàn cảnh đặc biệt như thế, ông Ford chẳng còn làm gì được vì Quốc Hội Mỹ đã quyết định không chi bất cứ một đồng đô la nào cho chiến tranh Việt Nam nữa. Sự chia rẽ của dư luận Mỹ, cuộc đấu đá giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ cũng như tranh chấp trong nội bộ hai đảng vì bị ảnh hưởng của vụ Watergate đã trói tay vị Tổng Thống mà lòng vị tha mạnh hơn những bất đồng chính kiến.

Không có lòng vị tha, ông không thể thu xếp ổn thỏa việc thiết lập cầu không vận để di tản một số lượng người Việt Nam và người Mỹ lớn lao như vậy trong điều kiện nguy hiểm và gấp rút. Không có lòng vị tha vương chút ân hận vì cách đối xử của Mỹ đối với đồng minh, ông Ford không thể nào lo lắng được cho số người Việt tị nạn phải bỏ lại quê hương Việt Nam, bước chân lên đất nước ông với hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy hoang mang, tan nát.

Nhưng đó mới chỉ là một phần dấu ấn mà Tổng Thống Ford để lại trong lòng người Việt di tản. Trước đó, đối với nước Mỹ, Tổng Thống Ford đã có một hành động vô cùng can đảm. Ðó là vượt lên trên những khó khăn, chia rẽ xào xáo nhau do hậu quả của vụ Watergate. Hành động ân xá cho Tổng Thống Nixon sau vị tiền nhiệm của ông bị luận tội trước Quốc Hội và phải từ chức là một quyết tâm gác lại biến cố này phía sau để nước Mỹ tiến về phía trước, để đoàn kết dân chúng Hoa Kỳ sau nhiều thập niên gấu ó, phân ly. Nhưng lực bất tòng tâm, chính phủ Mỹ dưới thời ông Ford đã không còn điều kiện cứu vãn Miền Nam Việt Nam, ngoại trừ việc giúp người Việt Nam di tản, tạo điều kiện cho những người này định cư tại Hoa Kỳ, xây dựng lại cuộc sống.

Khi vào trại cải tạo, cũng đã có giai đoạn chúng tôi tranh luận với nhau về vai trò của Tổng Thống Ford trong vụ để Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Lúc đó thật ra chẳng ai có tài liệu nào nhằm hậu thuẫn cho những lập luận của mình, nên chỉ biết trách cứ vị Tổng Thống thứ 38 của Hoa Kỳ là phản bội. Nhưng vào những năm sau này khi sang định cư tại Hoa Kỳ, đọc lại những cuốn sách viết về Tổng Thống Gerald Ford, truy cứu lại những tài liệu nói về cuộc di tản vĩ đại của dân chúng Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975 mới thấy rằng, ở hoàn cảnh lúc đó, bất cứ ông Ford hay ông nào khác mà lãnh đạo nước Mỹ thì cũng chỉ như thế mà thôi.

Cho nên khi nhìn lại hình ảnh của cuộc di tản 1975 sau khi tin cựu Tổng Thống Ford từ trần được loan báo, tôi có ý nghĩ như thế này: nếu như ông Ford không quyết định vượt lên trên những tan nát do vụ Watergate để lại, thì cùng lắm ông chỉ có thể cứu được ông Ðại Sứ Graham Martin và 59 quân nhân TQLC Hoa Kỳ gác tại Sứ Quán Mỹ trên đường Thống Nhất mà thôi chứ không thể nào có phương tiện để đưa đến trên 237,000 người Việt Nam ra đi vào những giây phút đầu tiên của thảm kịch này. (VA)


Số Lần Chấm:  
2

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,493
Nguồn: nguoi-viet.com
Đăng bởi: Học Trò (12/30/2006)
Người gửi: