Bài Viết (Chưa Xếp Loại)

Tôi Đọc "Thung Lũng Hoàng Hôn"

Hương Kiều Loan

1.
Vừa giở tập truyện Thung Lũng Hoàng Hôn và nhìn thấy tên của bốn tác giả, Hương Kiều Loan đã biết ngay là mình vì bạn mà sẽ mang lấy hệ lụy. Người đã gửi cho HKL tập sách này là anh Vương Ngọc Long với lời nhắn:"Sách hay lắm, chị đọc đi và nhớ viết cho một bài phê bình". Nhận được tập truyện có một tên thật hấp dẫn,và bìa sách thật đẹp, rất bắt mắt, làm HKL đã tưởng đây là một cuôùn truyện tâm tình của một tác giả độc nhất, viết thật nhẹ nhàng, và khi đọc xong HKL chỉ cần viết lên cảm nhận của mình sau khi đã say mê đọc trọn cuốn sách. Nhưng HKL đã phải để ra hơn hai tuần lễ để đọc tập truyện nhiều lần mới viết được ít lời nhận định vì kiến trúc đặc biệt của cuốn sách. Thế nhưng trước hết, HKL phải nói ngay đây là một tập truyện thật đặc sắc vì tính chất đặc biệt của nó.

2.
Thung Lũng Hoàng Hôn là một tập truyện do nhiều người viết. Trong bốn tác giả đặt theo thứ tự ở ngoài bìa, là Vũ Tùng Văn, Nguyễn Đức Vinh, Nghiêm sĩ Tuấn và Lê Sĩ Quang, thì hai người đầu là dược sĩ và hai người sau là y sĩ. Tập sách gồm có nhiều truyện, trong đó có một truyện được viết cách đây hai năm (2001), và một truyện viết cách đây hơn hai mươi lăm năm, còn lại là những truyện đã được viết cách đây trên ba mươi năm, ngay tại trên quê hương đất nước trong những ngày sôi động nhất, và đau thương nhất.

Hai tác giả thuộc ngành y, là những bác sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn và Lê Sĩ Quang, thì nay đã qua đời, một người hy sinh cho đất nước năm 1968 ở Khe Sanh, trong khi đang săn sóc cho thương binh giữa một trận chiến khốc liệt, một người ở hải ngoại, sau khi rời đất nước được mấy năm, vừa qua thời gian kham khổ học để thi lấy lại bằng hành nghề thì bị bạo bệnh mà lìa trần.

Hai tác giả thuộc ngành dược, là Vũ Tùng Văn và Nguyễn Đức Vinh, thì nay đang sinh sống ở Hoa Kỳ, một người ở miền Tây, và một người ở miền Đông, xa nhau cả một chiều ngang lục địa. Vậy thì điều gì đã đưa họ đến với nhau để những bài viết của các tác giả được gom thành một tập truyện?

3.
Để có một ý niệm tiên khởi về cuốn sách, Hương Kiều Loan đã phải trước hết đọc một lượt đầu để phân định tập truyện, gồm có một truyện dài và sáu truyện ngắn. Ngoài ra lại có một truyện phỏng dịch, mộït thoại kịch, và sáu bài thơ buồn, mỗi bài là một đoản khúc lục bát tứ tuyệt. Sau cùng lại có ba bài viết ngắn để nói về mối giao tình giữa những tác giả.

4.
Chính là nhờ ba bài viết ngắn vừa nói ở trên, mà tác giả là Vũ Tùng Văn, người chủ biên cho tập truyện, mà cuốn sách đã khởi sắc, vì người đọc đã nhìn thấy mạch lạc giữa những bài viết, và nhất là đã nhìn thấy những liên hệ giữa những tác giả. Cuốn sách mở đầu bằng bài viết vào đề của Vũ Tùng Văn nói về "Những Người Bạn". Cách đây ba mươi bẩy năm, họ là những dược sĩ, những bác sĩ mới ra trường, được gọi theo Khóa Trưng Tập 7 năm 1966, để được huấn luyện quân sự tại Thủ Đức, và sau đó lao mình vào các chiến trường. Trong những ngày đầu nhập ngũ, cùng sống với nhau tạïi quân trường, và nhớ lại thời vừa qua khi còn là những sinh viên Khoa Y và Dược, họ đã là những cây bút chủ lực cho những Đặc san của trường, nhóm tân sĩ quan quân y dược này lại gom sức nhau, tay cầm súng, tay cầm bút, để ấn hành Đặc San Truyền Sinh. Danh xưng này sau cũng trở thành quen thuộc trong giới Y và Dược vì được dùng làm tên cho Nguyệt San của Bộ Y Tế. Những bài viết đặc sắc đã in ra khi xưa của các tác giả trong tập truyện này, sau hơn ba mươi năm, khi kẻ còn người mất, nay được người chủ biên chọn lựa để in thành một tập với hy vọng truyền sinh lại những tinh hoa văn chương cũa một thời tuổi trẻ đầy hào khí dấn thân.

5.
Sau bài giới thiệu những người bạn, tập truyện mở đầu bằng bài "Thung Lũng Hoàng Hôn", một truyêïn dài 83 trang với tên dùng cho tập sách. Theo tác giả Vũ Tùng Văn thì nếu những bài viết còn lại trong tập truyện là những dấu tích ghi nhận từ quê hương xa xưa thì ở đây nhà văn viết cho quê hương đang sinh sống trên chặng đường đời. Nơi đây nếu có những thành phố tráng lệ, bừng lên sức sống, có một nền văn minh tột đỉnh và một xã hội đầy cạnh tranh, có một nền kỹ nghệ tân kỳ, thì cũng có núi rừng bao la, và tác giả đã về Como Peak ở miền Montana về phía tây bắc Hoa Kỳ, với phong cảnh hùng vĩ trong một thung lũng chạy dài giữa hai dẫy núi cao ngất đứng song hành để bắt đầu câu chuyện.

Đọan mở đầu tả thật nhẹ nhàng cảnh một cậu bé da đỏ được chứng kiến một con ngựa vừa lọt lòng mẹ, chập chững đi mấy bước đầu tiên giữa cảnh hoang vu đồng nội. Lại gần làm quen con vật sơ sinh, và lấy tay vuốt ve lớp lông tơ mềm mại, cậu bé thủ thỉ nói chuyện với con bạn mới, đặt tên nó là WhoA, và hứa sẽ săn sóc thương yêu nó suốt đời. Sau buổi lần đầu gặp gỡ, rồi tiếp theo năm tháng trải qua, trong khi WhoA lớn lên giữa đàn ngựa hoang hàng ngày chạy trên cánh đồng cỏ bạt ngàn, và với cước bộ thần tốc cùng khả năng lãnh đạo, con vật đã trở nên con tuấn mã đầu đàn để hướng dẫn đồng chủng, thì nay cậu bé là dũng sĩ Cheye, một ngày nắng chói chang, đã dẫn một đoàn trai tráng trong bộ lạc xuống vùng thung lũng của bầy ngựa hoang, để quần thảo và bắt được con ngựa đầu đàn, và nhận ra chính là con thần câu khi xưa chàng đã gặp và đặt tên là WhoA.

Câu chuyện có thể chấm dứt ở đây khi Cheye mang con kỳ mã về làm tặng phẩm cho người cha là Tù trưởng của Bộ lạc vào dịp khánh thành tượng đài Totem. Nhưng câu chuyện của WhoA và Cheye còn được kéo dài vì đây là miền đất mới, không phải là quê hương xưa của tác giả, nơi đây người ta nghĩ ra mọi cách để làm giầu, nếu không mua bán bằng tiền bạc thì là trao đổi, người mua và người bán đều nhận được những vật mình mong muốn có được, và người chủ mới của WhoA, khi được con vật quý trong tay đã huấn luyện con ô mã và dùng nó để chiếm những giải tại các trường dua và kiếm hàng bạc triệu.

6.
HKL không muốn đi vào chi tiết những gì đã xẩy ra sau đó, trước khi viết đoạn kết luận, nhưng có thể nói là Vũ Tùng Văn đã là một đạo diễn có biệt tài vì khi đọc sách người ta có cảm tưỡng như đang coi một cuốn phim chiếu trên màn ảnh. Qua những trang sách, người đọc có thể hình dung thấy đàn ngựa hoang chạy trong thung lũng, quần thảo như một một tấm thảm thần khổng lồ, có mầu sắc, uyển chuyển lúc sang đông, khi chạy về tây. Những cử động của những con tuấn mã, khi đứng riêng biệt, vểnh tai để nghe ngóng hay cong môi cất tiếng hí, đã được nhà văn tả như là một người nuôi ngựa thành thạo. Thêm vào đó, một vài đọan sách tả cảnh trường đua ngựa ở Kenturky, chỉ dẫn những cách thức đánh cá cặp tùy theo người mua vé muốn thử thời vâïn may rủi nhiều hay ít, đã chứng tỏ rằng người viết rất thông thạo vấn đề. Ngoài phần tả cảnh, tả người, và tả sự việc, tác giả cũng đã thành công khi, qua lời văn, truyền đạt được tới người đọc tình người trong câu chuyện. Con WhoA đầu tiên đã bị những kẻ có dã tâm bắn núp để triệt hạ và làm cho người chủ ngựa mất đi một bảo vật đáng giá bạc triệu. Nhưng nhờ kỹ thuật ghép gen do ông bảo trợ, một con WhoA mới, bằng xương bằng thịt, đã ra đời và giống hệt con trước, từ mầu sắc bộ lông cho tới vệt đốm trắng xóa kéo dài trên trán.

7.
Mấy năm sau, con WhoA tái sinh với bộ cước nôn nóng đã sẵn sàng đưa lại vinh quang và thịnh vượng cho trang trại của người chủ ngựa. Nhưng lần này ông đã không muốn khai thác con tuấn mã để làm giầu thêm qua những cuộc đua giữa con WhoA mới và đồng loại nữa. Cảnh thảm sát của con WhoA đầu tiên luôn luôn ám ảnh trí não ông. Lòng tràn đầy hối hận, ông đã một mình lái xe kéo chiếc rơ móc chở con tuấn mã qua một chặng đường dài để tới Como Peak và thả con WhoA cho trở về với đồng cỏ bạt ngàn. Nơi đây, từ nhiều năm qua, mỗi độ trăng tròn người ta lại thấy dũng sỉ Cheye, nay đã thay cha làm Tù trưỡng Bộ lạc người da đỏ, cùng với một số thuộc hạ đứng trên vòm núi cao để nhìn xuống thung lủng tìm trong bầy ngựa hoang, bóng dáng con WhoA với lòng tin tưởng rằng có ngày con tuấn mã lại hiện ra và trở lại với chàng. Nhờ có tình người mà con ngựa đã được trở về để làm sống động lại mối tình khi xưa giữa cậu bé da đỏ và con ô câu sơ sinh.

8.
Tiếp theo câu chuyện cũa Vũ Tùng Văn về con ngựa hoang WhoA và cậu bé da đỏ Cheye, người đọc được thưởng thức những sáng tác của Nghiêm Sĩ Tuấn gồm có bốn chuyện ngắn và sáu đoản khúc lục bát buồn. Hương Kiều Loan nghĩ người đọc có lẽ dễ cảm nhận được nỗi buồn truyền tới từ tác giả, một y sỉ của binh chủng nhẩy dù đã ngã gục trên chiến trường dưới làn mưa đạn của địch quân, khi tìm đọc trước hết bài "Viết về Nghiêm Sĩ Tuấn" của Vũ Tùng Văn ở phần cuối sách, coi như là lời giới thiệu mở đầu cho đoạn này.

Đọc bài viêùt, người ta nhận thấy ngay sự thân thiết giữa những người bạn, có tác phẩm in chung trong tập truyện, họ tuy ở hai ngành Y và Dược khác nhau, nhưng đã được nối kết bằng giao tình văn nghệ. Nghe điện thoại của Lê Sĩ Quang gọi từ Hốc Môn lên, báo thêm tin dữ đã được từ miền Trung đánh về rằng Nghiêm Sĩ Tuấn, con người có dáng thư sinh, mảnh mai nhưng lại có một tinh thần quả cảm vô biên, anh đã ngả gục vì một viên đạn vô tình, sau khi vừa được thăng cấp đại úy quân y trong binh chủng nhẩy dù, Vũ Tùng Văn đã thấy thờ thẫn, chớp mắt thật nhiều, nhìn khung cảnh chung quanh nhòe dần. Đời người ngắn thật như thế sao? Nghiêm Sĩ Tuấn khi mất mới có 33 tuổi, tính theo tuổi Ta. Vì anh sinh vào cuối năm Âm lịch, chỉ còn một ngày đã là Tết, nên chịu thêm một tuổi. Tính theo tuổi Tây, anh sinh vào đầu năm 1937 và mất vào đầu năm 1968 khi mới vừa hưởng được 31 mùa xuân. Hương Kiều Loan thấy ở trang 103 của cuốn sách, dưới tấm hình nhạt nhòa của một trung úy quân y sĩ nhẩy dù, trông nét mặt còn trẻ măng, hàng chữ đề là anh mất tại Khe Sanh năm 1967 trong khi đang cùng đơn vị hành quân. Hương Kiều Loan hơi thắùc mắc, bèn kiếm vị đại huynh khả kính cuả mình để hỏi, huynh là người có nhiều kinh nghiệm trong quân đội và quen biết thân tình với y giới, thì HKL được nhắc rằng lá thư cuối cùng mà Nghiêm Sĩ Tuấn viết từ Dakto gữi về đã đề ngày 28/12/67, tức là chỉ còn 4 ngày là đã sang năm mới, và theo trong quân sử, ngày quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Khe Sanh là ngày 23/6/68, tức là 16 ngày sau khi Vũ Tùng Văn viết bài thương tiếc người bạn hiền lành nhưng uy dũng có thừa. Vậy thì Nghiêm Sĩ Tuấn hẳn đã vị quốc vong thân vào những ngày đầu năm 1968. Hương Kiều Loan nghĩ thêm hay bớt một năm vào tuổi đời của người quá cố tất nhiên không làm tăng hay giảm văn và thi tài của Nghiêm Sĩ Tuấn, nhưng HKL hy vọng rằng tập truyện, khi tái bản, sẽ ghi đúng ngày mà một ánh sao vứa lóe lên trên bầu trời văn học lại vụt tắt để ngày nay chúng ta chỉ còn được thưởng thúc một số ít bài nhưng thật là đặc sắc của một nhà văn trong Y giới.

Nếu bài "Những Người Đi Tìm Mùa Xuân" đã gây cho người đọc ấn tượng là tác giả là người đọc nhiều biết rộng thì khi đọc bài tiếp theo với một đề có tính cách trào lộng là "Thịt Chuột và Văn Hóa", viết như là tự truyện thì ta được thấy là Nghiêm Sĩ Tuấn đã tự học đề thâu gồm được kiến thức kim và cổ của mình. Nếu biết được rằng tác giả những bài trong phần thứ Hai của tập truyện này là một bác sỉ y khoa trẻ, mà đã để thì giờ ra để học và tập viết chữ Hán, đủ trình độ để đọc tiểu thuyết võ hiệp nguyên bản của Kim Dung, thì người đọc có thể chờ đợi ở anh một sự chăm sóc đặc biệt để có những bài văn sáng tác thật độc đáo.

11.
Trong bài đầu, Nghiêm Sĩ Tuấn đã đưa ra một quốc gia ảo tưởng, có quân vương, thượng thư và nguyên soái, là những người lãnh đạo, có phú thương là người làm cho đất nước trù mật, có thi sĩ làm thơ và nàng nghệ giả múa hát để tô điểm thêm cho vẻ đẹp của sơn hà. Những người này, sau khi đã thăm thung lũng Trường Xuân là nơi mà mọi thứ đều toàn hảo, đã thu thập được ở đấy những vật hay, ý lạ, để mang về canh tân xứ sở và tạo ra cảnh thiên đường ở hạ giới. Được một thời gian ngắn ngủi, giang sơn này thành cẩm tú, mọi người đều hoan hỉ, thiên hạ thái bình. Nhưng rồi biến loạn xẩy ra, có những tư tưởng mới không hiểu từ đâu đưa lại, mà không ai hiểu thấu đáo, được những kẻø quá khích hô hào, truyền bá, và kích thích quần chúng làm cung đình sụp đổ, trật tự xã hội đảo lộn. Phải một thời gian sau, những sự sôi nổi ở kinh đô và ở trên thôn xóm mới được lắng dịu và đời sống dân giả mới trở lại bình thường.

Đọc câu chuyện này ta thấy tác giả có những ý tưởng độc đáo, và có thể gọi là tiên tri, khi nhìn thấy cãnh trù mật của một quốc gia, lại có khi chỉ là ảo ảnh được nhìn qua lăng kính mờ hơi nước trên sa mạc. Lúc còn sinh thời, Nghiêm Sĩ Tuấn có lần tâm sự với Vũ Tùng Văn:"Viết thì được, nhưng có ai hiểu gì đâu!". Từ ngày anh nói câu ấy tới nay, lấy đất nước mình mà nói, cũng đã có bao nhiêu lần thăng trầm biến đổi rồi. Nay đọc truyện này, HKL chắc sẽ có nhiều người hiểu được ý của tác giả muốn truyền đạt.

12.
Trong bài tiếùp theo, khi người đọc tưởng là khó hiểu vì thịt chuột được nêu bên vấn đề văn hóa, thì bài viết lại hóa ra rất minh bạch. Đây chỉ là một bài phiếm ngắn, tác giả viết theo dòng tư tưởng, cốt để đóng góp ý kiến với một người bạn mà anh nghĩ rằng chưa phân biệt được cái khác nhau giữa những con chuột đồng thịt ngon ăn thơm phức và những con chuột thành phố chui rúc sặc mùi tanh hôi. Bài viết nào của Nghiêm Sĩ Tuấn, dù chỉ là phiếm luận, cũng có thêm chút tư tưởng riêng tư anh muốn truyền đạt tới người đọc. Hương Kiều Loan nghĩ rằng bài này của anh cũng không hẳn viết ra chỉ để ca ngợi món thịt chuột đồng rang với lá chanh tươi thái chỉ, ( không hiểu ăn có ngon không? Nhưng nghe tả thì thật hấp dẫn, tuy nhiên HKL chọn ăn rau cho chắc ăn, hi…hi…). Bài này của tác giả cũng còn là một thư gửi cho những người làm văn hóa.

Đọc bài này sẽ có những người hiểu Nghiêm Sĩ Tuấn, và cũng có những người cố tình không hiểu vì họ chỉ quen với chuột thành phố, suốt đời chui rúc dưới cống và ngõ ngách, và chưa bao giờ nhìn thấy một con chuột nhởn nhơ chạy ngoài cánh đồng.

13.
Hai bài tiếp theo, trong số bốn truyện ngắn chọn lọc của Nghiêm Sĩ Tuấn, thuộc về loại đối thoại. Trong bài "Para Bellvm" tác giả viết như là Người thứ nhất nói chuyện với bốn người khác, được gọi là Người thứ hai, Người thứ ba,... và anh đã chọn một người là cô bạn gái thân yêu, môt người là bạn tâm sự, một người bác, một đứa cháu, và sau cùng có hai người ở ngoài đường là một người lính và một bà hàng chè nói chuyêïn với nhau. Những lời tác giả đặt cho từng người cũng là suy tư của người viết, một người trẻ trong thời chiến trước giờ lên đường. Bài sau cùng với đề là "Đất Chẳng Trở Về" là một chuyện dịch, tác giả viết để kể cho mấy đứa em. Những người đã biết nhiều về Nghiêm Sĩ Tuấn, hay đã đọc những bài viết khác của anh thường kể lại là anh hay chêm những câu tiếng La Tinh trong câu chuyện. Sự việc này theo HKL thì không phải là tác giả cố ý làm cho bài viết khó hiểu nhưng chỉ là căn nguyên sùng đạo Thiên Chúa của tác giả mà thôi.

14.
Qua những bài văn, tuy đôi khi Nghiêm Sĩ Tuấn đưa những suy tư làm người đọc phải nghĩ ngợi, nhưng anh cũng đã là người khéo léo xử dụng chữ nghĩa, có lẽ nhờ vốn liếng Hán học của anh, để cho lời viết đi nhẹ nhàng. Tài năng xử dụng tiếng Việt này càng được bộc lộ ra trong sáu bài thơ lục bát tứ tuyệt, dược ghi chung trong bài "Sáu Buồn" ở cuối chương sách dành cho Nghiêm Sĩ Tuấn. Mấy bài thơ đọc lên thấy thật buồn, như báo trước cuộc đời ngắn ngủi của con người tài hoa. Để giới thiệu tài gieo vần lục bát của tác giả, HKL mạn phép được trích hai câu ở hai bài khác nhau để ghép thành một bài tứ tuyệt có được một chút niềm vui:

"Rộn ràng chim hót rừng thưa,
Lắng tai quen thuộc vườn xưa ngỡ ngàng.
Đá im xa mã vội vàng,
Vui chăng trong đục, ríu ran hậu trường."

15.
Tiếp theo những bài văn và thơ của Nghiêm Sĩ Tuấn là những đóng góp của Đông Linh Nguyễn Đức Vinh gồm có một truyện ngắn "Chia Ly Ngày Thơ" và một thoại kịch "Người Lãnh Đạo". Nếu những bài văn của Nghiêm Sĩ Tuấn đã phải làm cho người đọc suy tư thì trái lại, trong truyện ngắn của Đông Linh, ông đã kể cho chúng ta những mối tình thơ mộng, nhẹ nhàng trong những ngày đầu của những năm kháng chiến chống Pháp. Với một văn phong linh động và tươi sáng, Đông Linh có lẽ đã kể chuyện mình, qua nhân vật Hân, một cậu bé mới mười mấy tuổi đầu, sống với gia đình trong một trang trại rộng lớn ở địa đầu Thanh Hóa, trên đường vào Liên khu Tư.

Câu chuyện đã dệt quanh những trao đổi tình cảm qua những lời nói, quyến luyến hay giận hờn giữa Hân và Hằng, là cô bạn gái cùng trạc tuổi trông rất xinh, nhưng lại tinh nghịch. Trong những quà kỷ niệm Hân để lại tặng cho Hằng, khi chia tay để về thành, cũng có một chiếc lược ngà của Phượng Tần, một cô sinh viên trường Thuốc đã trú ngụ ở trang trại mấy tháng, và Phượng Tần đã để lại tặng cho Hân giữ làm kỷ vật thân thương trước khi cùng gia đình suôi về miền Trung.

Giữa Hân và Phượng Tần cũng có sự quyến luyến khi chia tay, nhưng giữa Hân và Hằng thì thật là mối tình thơ trẻ, chỉ thật thắm thiết sau khi Hân đã lên đường, và lần đầu tiên Hằng thấy mắt nhòa lệ khi đứng lẻ loi một mình ở nơi đôi bạn xưa nay thường hẹn nhau ra đó vui đùa. Tả tâm lý của tuổi trẻ thật là khó. Nhưng có thể nói Đông Linh Nguyễn Đức Vinh đã thành công khi làm cho người đọc thấy bâng khuâng khi buông cuốn sách xuống và nghĩ đến thời thơ trẻ của chính mình. Là người chủ biên, Vũ Tùng Văn đã chọn một thoại kịch đăng tiếp nối, như muốn giới thiệu tài năng đa dạng của người bạn văn cùng trong ngành dược. Sáng tác của Nguyễn Đức Vinh rất phong phú. Ông đã từng in thơ, và xuất bản một số truyện ngắn, truyện dịch và viết nột số kịch. Thọai kịch của ông được chọn đã chứa đầy mầu sắc và âm thanh và diễn tả lại vụ thuyền trưởng Christopher Colombus được Hoàng Hậu Isabella I cấp cho chiếc tầu Santa Maria vào năm 1492 để đi tìm Tân thế giới.

Một thoại kịch, cũng như một bản nhạc, phải được trổi hay hát lên và nghe, mới có thể thẩm định được. Tuy vậy, qua trí tưởng tượng, HKL cũng có thể kết luận được là vở kịch có giá trị. Chỉ có điều tiếc là HKL chưa được đọc một vở thoại kịch nào về Việt sử của Đông Linh. Và riêng trong vở "Người Lãnh Đạo" này, cốt để biểu dương óc kiên cường của người thuyền trưởng kiên nhẫn để đi tới bến bờ, tên của Columbus đã được Việt hóa là Kha Luân Bố trong khi tên của những nhân vật khác như quốc vương Ferdinand, đại tướng Armando...vẫn để nguyên theo lối viết của Pháp.

16.
Tập truyện được kết thúc bằng hai bài viết ngắn của bác sĩ Lê Sĩ Quang. Bài viết đầu là bài "Thời Vận" trong đó tác giả đã kể lại câu chuyện quen thuộc với những người trong ngành thuốc và dựa lên hai câu thơ:

Vận khứ hoài sơn năng chí tử,
Thời lai thanh thủy khả thôi sinh.

để nói lên rằng nếu số đã tận thì dùng thảo vị hoài sơn là thuốc bổ cũng làm người chết được trong khi thời vận tới thì chỉ dùng nước trong cũng giúp cho sản phụ khi lâm bồn sinh nở được mẹ tròn con vuông.

Điều đặc biệt ở đây là Lê Sĩ Quang đã kể lại câu chuyện qua hành động của một Y Sinh, khi muốn dùng hoài sơn để cứu người thì lại gây thảm tử và khi rửa tai bằng suối nước trong để không muốn nghe lời trần tục thì lại vô tình chỉ dẫn phương thức sinh nở dễ dàng. Người đọc tất hiểu rằng Y Sinh chính là tác giả, và như vậy những băn khoăn cùa Y Sinh, tâm sự chán chường của người thầy thuốc khi muốn lên núi để tránh xa trần tục, và lương tâm đòi hỏi vị đại phu đã không thể chối bỏ thiên chức cứu nhân độ thế của mình mà phải hạ sơn để tới những người bệnh tật, những điều đó cũng là những dằn vặt mà Lê Sĩ Quang đã trải qua. Theo Vũ Tùng Văn giới thiệu thì Lê Sĩ Quang thường quan tâm đến đạo đức của người y sĩ. Với ông, cơ bản của nghề Y Dược là lương tâm, chánh đạo.

Truyện ngắn sau cùng Lê Sĩ Quang viết về những ngày tàn tạ của một con "Mèo Hoang", bị chủ nhà bỏ lại trong một căn nhà trống vắng, giờ đây phải đương đầu với những con vâït hạ tiện, những con mối, con gián sao ở đâu mà mọc ra lắm thế, và bạo dạn hơn nữa là những con chuột chui lên từ những cống rãnh và những xó xỉnh tăm tối, giờ đây cũng thản nhiên chia đôi làn ranh với con mèo hoang cô thế. Cái chết của con mèo hoang cũng buồn, thật buồn.

17.
Vũ Tùng Văn đã mở đầu cuốn sách bằng bài vào đề nói về "Những Người Bạn". Ông đã đóng cuốn sách bằng hai bài nói về những tác giả đã sớm ra đi. Trước hết là bài "Viết về Nghiêm Sĩ Tuấn" như đã nhắc đến ở trên. Bài cuối cùng trong tập truyện là bài "Tình Bạn". Bài này thực ra gồm có bốn lá thư của Lê Sĩ Quang viết cho Vũ Tùng Văn, những lá thư nói về chuyện lo lắng giúp tiền nong cho một người bạn của cả hai người, còn kẹt ở Việt Nam, để anh có phương tiện vượt biên. Điều làm cho nổi bâït lên cái tình bạn thiêng liêng của những người trong cuộc là thư viết khi Lê Sĩ Quang đã mắc bệnh nan y và ông đã biết rằng mình chỉ còn sống thêm được vài tháng nữa mà thôi, và Vũ Tùng Văn cũng đang ở trong giai đoạn chuyển cư từ Gia Nã Đại sang Hoa Kỳ và chuẩn bị để hành nghề lại. Vì tình bạn mà những con người dù đang gặp khó khăn cũng vẫn phải xén bớt chi tiêu, dốc hết cả tiền dành dụm để giúp nhau qua cơn bĩ cực. Bài cuối cùng này còn gồm thêm một lá thư nữa của một người bạn khác vừa ghé thăm Lê Sĩ Quang nằm trên giường bệnh, lá thư cũng viết cho Vũ Tùng Văn để nhắc ông tới thăm Quang lần cuối. Người bạn cũng là một y sĩ nên biết rõ tình hình.

18.
Tuy hai bài ở cuối tập truyện nói về hai tác giả đã quá vãng nên nghe có vẻ buồn, nhưng toàn thể cuốn sách lại đưa cho người đọc những giờ phút êm dịu vì đây đó luôn luôn có những niềm hy vọng, man mác tình người. Hương Kiều Loan đã đọc cuốn sách nhiều lần, và nhờ ở người chủ biên là Vũ Tùng Văn đã khéo léo viết thêm những lời giới thiệu ngắn chen kẽ trong cuốn sách mà HKL đã biết về những tác giả như là những nhà văn mình quen biết lâu năm.

Hương Kiều Loan xưa nay vẫn tin rằng đọc văn là biết về người. Riêng về bác sĩ Lê Sĩ Quang thì HKL được nghe về người y sĩ này qua vị đại huynh của mình, và theo huynh thì Lê Sĩ Quang giỏi về văn, thơ, nhưng trong gia đình còn có cô em gái: Lê Kim Yến, một thiếu nữ xinh đẹp có giọng ngâm thơ tuyệt vời. -- người mà Lê Sĩ Quang nhắc đến trong một bức thư -

Nếu nhắc đến những người aó trắng đa tài HKL lại nhớ đến người bạn quen từ hồi trung học, bác sĩ Mùi Qúy Bồng, với tài thơ,ï văn, họa ít người sánh kịp, ngoài ra HKL còn rất nhiều những người bạn aó trắng khác cũng tài hoa chả kém, HKL xin hẹn độc giả ở một bàì khác khi bàn về thơ nhạc cuả họ…

Đọc Thung Lũng Hoàng Hôn, Hương Kiều Loan sực nhớ ra duợc sĩ Nguyễn Đức Vinh là ông anh ruột của cô bạn TV xinh đẹp: Hồng Thủy, người mà HKL nhắc đến trong bài “ Thầy Cô và chúng tôi”. -Y Tế số tháng Ba / 2003 - HKL đã gặp anh mấy lần khi lại nhà Hồng Thủy chơi. Hồng Thủy đối với HKL còn là vai tỷ tỷ, học trên ba đệ. Khi đó HKL mới còn là cô bé học đệ ngũ. Khi anh vaò trường Dược thì HKL mới đệ tứ TV.

19.
Để kết luận, Hương Kiều Loan có thể nói là "Thung Lũng Hoàng Hôn" là một tâïp truyện có giá trị văn học. Người chủ biên là Vũ Tùng Văn đã thành công khi chọn lựa trong những sáng tác khi xưa của mấy người bạn thân trong hai ngành Y và Dược, những người bạn thực có văn tài, đã có một thời cộng tác mật thiét với nhau để đưa ra những Nguyệt San có tên là Tình Thương, những Đặc San có tên là Truyền Sinh, những bài chọn lọc đó nay được giới thiệu với đại chúng. Ngoài những lời viết đẹp, kỹ thuật cao, những bài viết, dù là kể chuyện đời hay kể chuyện mình, cũng man mác tỏa lên tình người. Hương Kiều Loan hy vọng rằng Vũ Tùng Văn còn giữ được môt nguồn tài liệu dồi dào của những ấn phẩm khi xưa, và có nhiều thì giờ chọn lựa ra vài tập truyện tiếp nối. Những độc giả đã đọc "Thung Lũng Hoàng Hôn" có thể sẽ khao khát đợi chờ những tập truyện chọn lọc khác của các nhà văn trong ngành Y và Dược.


(May/2003)




Số Lần Chấm:  
42

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,711
Nguồn: Hương Kiều Loan
Đăng bởi: Pham Anh Dũng (10/19/2006)
Người gửi: Phạm Anh Dũng