|
(I)
Ðúng như tên gọi, tác phẩm “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè,” một tuyển tập những ký sự và hồi ký của 53 tác giả vừa hoàn tất và được Nhà Xuất Bản Người Việt ấn hành. Sách dày 412 trang kể cả một số trang hình ảnh kỷ niệm với bìa trình bày trang nhã, đã lần lượt đến tay những thân hữu. Con số 53 tác giả đã góp thành tuyển tập “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè” gồm những bằng hữu của ông, những người đã cùng ông dấn thân vào những hoạt động thanh niên, giáo dục và xã hội từ cách đây nửa thế kỷ, những thân hữu, những đồng nghiệp có ít nhiều kỷ niệm với nhà báo sống trọn đời mình cho thanh niên, xã hội và báo chí truyền thông này.
Nội dung cuốn sách chẳng có gì to tát để có thể gọi là vinh danh hay ngợi ca những việc làm của một người, mà ngược lại hầu hết các trang sách đều liên quan đến những kỷ niệm vui của những người từng biết nhà báo Ðỗ Ngọc Yến từ thời trai trẻ cho đến lúc sau này. Tôi gọi tác phẩm chỉ là một tập hợp những lời chia sẻ, gợi nhớ với nhau những kỷ niệm của những người bạn đã có với ông Yến trong suốt những giai đoạn hoạt động thanh niên và báo chí, từ lúc còn trẻ cho tới khi luống tuổi, gần đất xa trời. Kỷ niệm đó có thể sâu đậm, có thể chỉ là thoáng qua, nhưng tựu trung nó có thể góp lại thành bức chân dung sống động của “một nhà báo tò mò,” “một nhà báo thích lang thang,” “một nhà báo giang hồ vặt,” “một nhà báo biết chia sẻ hào hiệp,” và nhất là lòng đam mê báo chí ngay cả lúc nằm trong bệnh viện... như lời nhà báo Ðỗ Quý Toàn đã viết trong bài “Yến, từ những ngày tuổi trẻ.” (trang 60).
Những kỷ niệm với nhà báo Ðỗ Ngọc Yến còn trải dài qua những bài viết đáng chú ý của Hoàng Ngọc Tuệ, Kiều Chinh, Kim Dung, Lê Thiệp, Minh An Lã Phạm, Lý Kiến Trúc, Nguyễn Thị Ngọc Oanh, Nguyễn Ðình Toàn, Nguyễn Khắc Nhân, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nhã Ca, Phạm Cao Dương, Phạm Phú Minh, Phạm Quốc Bảo, Phan Huy Ðạt, Phan Nhật Nam, Phan Thanh Tâm, June Pulcini, Quỳnh Giao, John Sommer, Charlie Sweet, Ruth Talovich, Tân Văn Hồng, Thảo Trường, Thụy Khuê, Tiểu Quyên, Trần Mộng Tú, Trần Thị Thức, Trần Văn Khởi, Trần Văn Ngô, Vann Phan, Việt Nguyên, Võ Long Triều, Võ Phiến, Vũ Ánh, và Vũ Mạnh Hùng.
Trong những bài viết, những tác giả chỉ nói tới những kỷ niệm với một người bạn, một đồng nghiệp cho nên những nét chấm phá đó đã tạo nên những khối màu khác nhau, đa dạng, lạ lùng nhiều khi làm cho những người bạn cùng chơi thân với Ðỗ Ngọc Yến nhưng chưa bao giờ được nghe.
Chẳng hạn như Lê Thiệp, một nhà báo trước đây từng làm việc cho tờ Chính Luận từ Washington DC xuống quận Cam chơi và cũng để có dịp góp bài về Ðỗ Ngọc Yến, đã âm thầm mở cuộc phỏng vấn bà Lã Phương Loan, người bạn đời của ông Yến. Không hình ảnh nào trung thực hơn là vợ mô tả chồng mình và đây là một chi tiết thú vị trong bài “Người Nữ Ðằng Sau”:
“...Kể lại chuyện đám cưới sau 40 năm, bà Ðỗ Ngọc Yến cười cho hay, một tí nữa thì đám cưới bất thành... vì không có chú rể. Vào tối hôm trước khi nhà trai ở Sài Gòn đã thu xếp xong, thuê hẳn một chuyến xe đò đi Nha Trang rước dâu, mọi người tề tựu thì không thấy chú rể. Cả nhà túa đi tìm, nhưng không biết tìm nơi đâu. Chả là vì chú rể vẫn còn mải họp hành, tổ chức, hội thảo biểu tình gì đó, suốt đêm chưa xong... Khi ông Yến mắt nhắm mắt mở trở về nhà, vẫn còn ngáp lên ngáp xuống, đầu bù tóc rối, quần áo lếch thếch. Xe đò tới Nha Trang, việc đầu tiên là chú rể phải ra tiệm hớt tóc.” (trang 185)
Theo lời bà Lã Phương Loan thì ông Yến lăn lưng 24/24 trong nhiều công tác thanh niên và xã hội, nhất là chương trình Hè 1965. Như vậy, cái tiểu gia đình của chính ông thì ai lo? Và đây lại thêm một chi tiết khác do chính bà Loan kể:
“Học 2 năm ở Văn Khoa, tôi quyết định thi vào Ðại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Thì giờ của tôi dồn hết vào việc học hành và chăm lo con cái... Lúc học đại học sư phạm, tôi đã sinh cháu Bảo Anh. Bài vở ngập đầu, tối về lại còn phải lo đủ thứ cho đứa nhỏ, thì giờ đâu mà nghĩ đến những chuyện khác. Tôi phải nói rõ điều này. Ông Yến nhà tôi suốt thời gian lo Chương Trình Công Tác Hè không bao giờ đem về đồng xu cắc kẽm nào. Gia đình chồng tôi buôn bán khá giả, chúng tôi được chia hẳn một tầng lầu rộng rãi và hồi đó cái ăn, cái uống không phải là mối bận tâm. Ðã không đem tiền về, ông Yến còn lấy toàn bộ nữ trang đám cưới của tôi đem đi.
- Lấy của hồi môn?
- Vâng. Câu chuyện xảy ra tôi không dám ngờ cho ai, mãi sau này, cách đây vài năm tôi mới vỡ lẽ. Nhà đông người, thợ thuyền, kẻ ăn người làm nên một hôm tôi khám phá ra toàn bộ nữ trang của tôi bị mất, tôi có hỏi thì nhà tôi im lặng. Tôi chết cứng người, không dám nói với ai. Cách đây vài năm, ông Ðỗ Tăng Bí nhân lúc vui chuyện bảo: Bà Loan này hiền thật, mất của cũng không biết. Hồi đó, ông Yến cần tiền (cho đoàn công tác) vì funding (tài trợ) của IVS chưa được tháo khoán kịp, ông Yến rủ tôi về lôi hết vàng bạc đưa tôi đem cầm đồ, bà có biết không? Tôi ngẩn người ra và hỏi ông nhà tôi thì chỉ thấy ông ấy vẫn cười trừ. Có điều tôi thấy không tiếc mà cũng không giận. Bản tính tôi nó vậy.”
Thế những khi ông chồng bỏ đi biền biệt thì người vợ nghĩ gì?
- “Tôi nói thật, tôi chỉ lo an ninh của nhà tôi. Rõ ràng nhà tôi thân cô, thế cô, không có chỗ dựa thế lực như chính quyền, quân đội, đảng phái. Bản tính hiền lành, nhỏ nhẹ, nếu có chuyện nguy hiểm làm sao ông ấy đối phó.” (trích 186-188)
Trên đây là một trong hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện liên quan đến Ðỗ Ngọc Yến được các bằng hữu và đồng nghiệp thuật lại với một lối tường thuật khá lôi cuốn. Người đọc có thể có nhiều cách nhìn khác nhau về những điểm được nêu ra trong đời sống, đời hoạt động, đời làm báo của ông Yến. Cách nhìn khác thì suy nghĩ cũng khác. Và đó là điều chính ông Yến cũng muốn và đã từng nhiều lần nói với những người làm việc chung với ông trước đây. Ông nhấn mạnh: “Không có cái gì buồn chán hơn một đời sống đơn điệu...”
(II)
Tôi nhớ lại rằng trong một vài cuộc biểu tình trước đây, một vài người trong đoàn biểu tình cho biết họ chống báo Người Việt vì cho Người Việt là báo của Việt Cộng. Chúng tôi bao giờ cũng im lặng chờ đợi xem những người tố cáo trưng được bằng chứng gì cụ thể, nhưng đợi hoài cũng chẳng thấy. Trong khi đó những hội đoàn chống cộng hàng ngày tiếp tục yêu cầu Người Việt phổ biến các thông báo cộng đồng đến đồng hương và không ngừng mời “báo Việt cộng” đến tham dự các sinh hoạt của họ. Anh em trong tòa soạn chỉ còn biết cười vui. Cũng có một vài lần, có người đặt vấn đề cơ ngơi của báo Người Việt. Chuyện này xem ra lại còn buồn cười hơn nữa. Cách đây 28 năm, có ai tin rằng ông Yến có tới vài chục ngàn, nửa triệu hay 3 triệu để dựng tờ Người Việt không? Hay là tờ Người Việt xuất bản từ một cái garage với vốn vài ngàn đồng do Yến và bạn bè của ông góp lại để rồi “năng nhặt chặt bị” từ tháng nọ qua năm kia gây dựng được cơ ngơi ngày nay. Chúng ta hãy nghe một nhân chứng là ông Ðinh Xuân Quân nói về những ngày đầu tiên làm báo với ông Ðỗ Ngọc Yến:
“...Sang Hoa Kỳ, tại quận Cam, tôi đã có dịp gặp lại Ðỗ Ngọc Yến sau nhiều năm biệt tích, anh cùng gia đình từ Texas bò sang quận Cam với hoài bão là làm sao ra một tờ báo. Anh đã viết báo tại Texas, nhưng anh muốn làm báo tại quận Cam, nơi mà đồng hương “đã chọn nơi này làm quê hương”. Lúc đó anh và gia đình ở đường Euclid. Thời gian đầu đa số người mới tới đều phải lo đi học, lo tìm miếng ăn. Quận Cam ở vùng Bolsa toàn là vườn dâu, có rất ít nhà cửa ra hồn. Tôi may mắn hơn nhiều người khác vì đã học tại Mỹ cho nên cũng tìm được việc làm mau chóng: Sáng đi làm advisor cho số anh em đi học nghề tại công ty Goodwill, chiều đi dạy học tại Santa Ana College. Trong hoàn cảnh này tôi gặp lại anh Ðỗ Ngọc Yến. Cho nên tôi thêm một nghề thứ ba là cứ tối và ngày nghỉ thì đến garage nhà anh Yến làm báo. Lúc đó anh Ðỗ Ngọc Yến cũng ít cộng sự viên. Lúc đầu có anh Du Miên, sau này có anh Nguyễn Ðức Quang. Anh Quang thì tôi đã gặp và quen tại Paris.
“...Khác với làm báo ở Việt Nam, qua đây thì cũng có nhiều cách thông tin và Ðỗ Ngọc Yến lúc nào cũng dùng truyền thông làm phương tiện thông tin chính xác, không méo mó hay sử dụng để bắt chẹt người khác, loan tin thất thiệt hay bôi nhọ người khác. Ðỗ Ngọc Yến có cái nhìn nghiêm chỉnh về truyền thông.
“Lúc đầu, tờ báo chỉ có vài trang. Thời gian đó báo cũng nhiều báo quảng cáo, báo cho không, cho nên sự cạnh tranh ráo riết. Anh ta lúc nào cũng lụi đụi làm marquette, lên trang báo và mang đi in cho kịp thời... Mỗi tuần tờ Người Việt chỉ có sức ra được vài ngày. Một việc đáng chú ý là lúc nào anh Ðỗ Ngọc Yến cũng hoan nghênh anh em ở Việt Nam mới qua đóng góp cho tờ Người Việt. Cái phòng garage lúc đầu thì có đủ chỗ, nhưng dần dần chật ních vì lúc nào cũng đầy người, đầy anh em từ nhiều chỗ ghé qua, từ Việt Nam mới sang hay từ tiểu bang khác ghé quận Cam. Sau một thời gian thì từ garage chuyển qua Bolsa Mini Mall, và từ Bolsa Mini Mall về đường Moran theo đà phát triển của tờ báo...” (trang 50-51 - Ðỗ Ngọc Yến - Những bước đầu của tờ Người Việt).
Ðà phát triển mà Ðinh Xuân Quân nói là chiều dài của 28 năm người sáng lập tờ Người Việt và các cộng sự viên, bằng hữu, bạn bè của ông phải trải qua bao nhiêu khó khăn gồm mồ hôi, nước mắt và có khi cả sự tủi nhục nữa mới gầy dựng được cơ ngơi như bây giờ. Cái giá phải trả của những thành tựu của tờ Người Việt cũng giống như bao nhiêu nỗ lực mà một người tị nạn Việt Nam chân ướt chân ráo đến xứ này phải trải ra để đi từ căn apartment một phòng ngủ cho cả gia đình, tiến ra căn apartment 2 phòng ngủ, rồi 3 phòng ngủ rồi mua nhà “single house” với các xe hơi đời mới thay thế cho những chiếc xe trị giá vài trăm bạc. Ở Mỹ, một người không thể ngồi chơi, không thể không đổ mồ hôi, không thể không cố gắng hay không cần hy sinh mà vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu của đời sống, của sự tiến bộ và phát triển. Huống chi một tờ báo. Những cố gắng để đẩy tờ báo từ một garage ra ngoài và dựng lên cơ sở như ngày nay phải mất đến 28 năm, chứ không phải 28 tháng, 28 ngày hay 28 giờ. Nó là chuyện bình thường không có gì bất thường. Nó cũng còn là sự công bằng. Nếu có người cho là khuất lấp thì cũng là quyền của họ, nhưng ở xứ sở này, một thông tin hay là một lời cáo buộc không có căn cứ bất quá cũng chỉ là kiểu đùa thấp hơn khôi hài đen mà thôi.
Chả có thế mà trong trong bài “Ðỗ Ngọc Yến, một niềm bí ẩn”, Ðinh Quang Anh Thái đã vẽ ra chân dung của một người từng đi dưới hai lằn đạn. Chúng ta hãy nghe Ðinh Quang Anh Thái viết về Ðỗ Ngọc Yến:
“...Khi đặt bút viết bài này, thoạt đầu tôi tính đặt tựa bài là: Cộng Sản Hà Nội rất muốn có bộ trống làm bằng da Ðỗ Ngọc Yến.
“Thật thế, tôi có bằng chứng cho thấy anh Yến không nhanh chân vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư năm 1975 thì chắc chắn anh sẽ bị Cộng Sản lột da.
Vì tội gì ư?
Tội “làm CIA.”
Tôi còn nhớ ngay đêm đầu tiên trong lần bị bắt thứ nhất, lúc đó là tháng Tám năm 1975, Hai Tải đã sấn sổ hỏi tôi về Ðỗ Ngọc Yến. Hai Tải là một sĩ quan công an phụ trách hồ sơ của tôi. Y quăng vào mặt tôi cuốn Nối Vòng Tay Lớn, tập kỷ yếu ghi lại sinh hoạt của sinh viên quốc nội và hải ngoại năm 1973. Chương trình này do anh Yến làm Ðiều Hợp Trưởng. Lúc đó tôi mới vừa xong trung học và theo chân thế hệ đi trước của anh Yến để dự dòng sinh hoạt. Hai Tải, rồi Năm Thùy, thậm chí cả Năm Trà phó giám đốc công an thành phố đều tra vấn tôi liên tục về Ðỗ Ngọc Yến. Họ lôi ra những sự kiện mà họ cho là thành tích chống phá cách mạng của tên tay sai Mỹ-Ngụy Ðỗ Ngọc Yến và bắt tôi viết lời khai về mối quan hệ giữa tôi và anh Yến. Năm Trà còn nói rằng Ðỗ Ngọc Yến còn nguy hiểm hơn nhiều thành phần khác của chế độ Miền Nam.
“Khoảng đầu năm 1976, báo Saigon Giải Phóng của Cộng Sản còn đăng loạt bài: Ðỗ Ngọc Yến là ai? Trong bài đó, ngoài những chi tiết thật về vai trò của anh Yến trong phong trào thanh niên Miền Nam, còn có những chi tiết dựng đứng, thêu dệt nhằm thuyết phục độc giả tin rằng anh Yến là sản phẩm của tình báo Mỹ. Hai lần bị bắt sau, công an đã hỏi cung tôi rất nhiều về anh Yến.
“Cộng Sản nghĩ về anh Yến như thế. Còn với một số người quốc gia không ưa anh thì họ đổ cho anh là Cộng Sản. Bản thân anh và tờ Người Việt đã là nạn nhân của nhiều vụ quấy phá. Có thời, tính mạng anh còn bị đe dọa bởi một số người vu cho anh là Cộng Sản...” (tr. 42-43 - Ðỗ Ngọc Yến, một niềm bí ẩn).
Biến cố 30-4-1975 tạo ra biết bao nhiêu ngỡ ngàng cho nhiều người về việc đi hay ở. Bây giờ thì ai cũng có thể nói là mình quyết định dễ dàng, dứt khoát phải đi thôi. Nhưng ở thời điểm đó thì khác. Những băn khoăn, dằn vặt, hoang mang, bối rối có thể làm cho người ta mụ đi. Bởi thế mới có cảnh người có đủ phương tiện ra đi thì bị kẹt lại, người không hề nghĩ rằng mình kiếm ra phương tiện thì lại ra đi trót lọt, chẳng cần chạy vạy để nhọc đến tấm thân. Lại có người, cơ hội ra đi chỉ đến trong vài phút hay trong vài giờ. Ðó là trường hợp Ðỗ Ngọc Yến. Bà vợ ông Yến kể lại:
“Tôi cuống cuồng và lo sợ trước cảnh diễn ra chung quanh. Ai nấy như ngồi trên đống lửa, nhưng khi nói chuyện với nhà tôi, ông ấy chỉ bảo chắc thế nào cũng có chuyện lớn xảy ra. Ðề cập đến chuyện đi hay ở thì nhà tôi cũng chỉ ậm ừ và vẫn chỉ lo theo dõi tin tức chính trị. Tôi nhớ tối 25/4/1975, tôi giận quá lôi ông Yến vào phòng, đóng cửa lại làm dữ. Ông ấy vẫn cứ nói đâu đâu rằng đây là cơ hội một đời để chứng kiến lịch sử. Tôi bảo lịch sử là của cả nước, tôi chỉ lo con cái tôi thôi. Sáng sớm hôm sau, dưới nhà vẳng lên điệu huýt sáo của mấy hướng đạo sinh gọi nhau, nhà tôi nhảy dựng dậy, chạy xuống. Tôi lò mò theo và thấy ông Ðỗ Quý Toàn. Nhà tôi hỏi sững: Toa chưa đi à? Ông Toàn cho hay vừa từ phi trường ra để thăm bà mẹ lần chót, tiện thể ghé hỏi chúng tôi có muốn đi không, hai giờ nữa sẽ có Ðỗ Tăng Bí lại đưa đi. Nhà tôi quay lại nhìn tôi và tôi bảo đi, nhà tôi cười nói: Ði thì đi... Chúng tôi đi được là nhờ ông Toàn, ông Bí (Bí kẹt lại và bóc 10 cuốn lịch ngoài Thanh Cẩm-NÐ) và khi vào tới phi trường nhờ có ông Britton, giáo sư Ðại Học Sacramento từng phụ trách việc tìm tài trợ cho Chương Trình Hè, giúp đỡ làm thủ tục giấy tờ nên mọi sự xuôi rót”. (tr. 53 - Người Nữ Ðằng Sau).
Nhưng đó là chuyện của 30 năm trước. Thế còn ông Ðỗ Ngọc Yến ở phố Little Saigon ngày nay thì sao? Có lẽ không gì hơn là phải trích dẫn bài viết của một ký giả, một nhà văn trẻ, anh Hoàng Mai Ðạt. Gọi nhà báo, nhà văn này là trẻ thì không đúng hẳn, nhưng nếu dùng “trẻ vừa vừa” có lẽ đúng hơn. Hoàng Mai Ðạt thuộc thế hệ tốt nghiệp đại học ở Mỹ, nhưng vẫn giỏi tiếng Việt, trong đầu đầy những suy nghĩ hài hước tự nhiên và ngộ nghĩnh, khi viết không gò ép khiến cho những tác phẩm của anh là những tác phẩm dễ đọc, lôi cuốn và hấp dẫn. Quý độc giả nào đọc tác phẩm “Biên Tà Tà” của Hoàng Mai Ðạt rồi, hẳn đã nhận ra điều này. Theo như lời Hoàng Mai Ðạt, thì anh biết ông Yến từ 18 năm trước. Nhưng 18 năm đó chưa đủ để anh biết tất cả mọi chuyện về nhà báo đàn anh này, nhưng những điều mà Ðạt biết về ông ấy cũng là những cái biết thật cảm động:
“Vào những năm 1987-1988, tòa soạn nhật báo Người Việt còn nằm một bên lề ở số 14841 đường Moran, chứ chưa chiếm hết một dãy nhà ở cuối con đường để có thể ngang nhiên trực diện Bolsa như ngày nay. Ở địa chỉ cũ ấy, vào mỗi Chủ Nhật, trong mùa Hè, lớp báo chí được tổ chức trong phòng sinh hoạt. Phòng này có một sân khấu nằm bên cạnh kho chứa báo. Lúc đó tôi vẫn rụt rè theo cá tính, chẳng dám ngang nhiên bước vào tòa soạn như một người quen. Tôi thường đến lớp báo chí từ cửa sau, bước ngang qua kho báo, hấp tấp tìm một ghế xa sân khấu, học hỏi thêm trong mấy giờ đồng hồ, thay vì la cà ngoài phố, dáo dác tìm người để yêu giữa đám đông xa lạ. Một bữa nọ bước vào kho báo, tôi gặp ông Ðỗ Ngọc Yến ở đó.
À đây rồi. Người ruồi gây máu lửa. Ông cười toe, nửa như muốn chọc ghẹo, nửa như muốn làm quen.
Trong tuần đó tờ Người Việt có đăng một bài tôi viết, ghi nhận một buổi ra mắt sách đầu tiên mà tôi được dự kể từ ngày mới đến California. Bài viết có nhắc đến một cách quá trung thực về phản ứng của khán giả đối với một diễn giả, khiến cho diễn giả sau khi đọc bài viết đã nổi giận, đòi ngưng cộng tác với nhật báo. Mặc dù tôi có lui tới tòa soạn một lớp báo chí mấy lần, hôm ấy là lần đầu tiên ông Ðỗ Ngọc Yến nói chuyện với tôi. Ông cho biết bài viết đã gây tranh luận giữa nhiều người trong tòa soạn. Ông khuyên tôi cẩn thận hơn, xong ông chuyển sang đề tài khác, trong khi tôi không hiểu mình viết gì mà người ta lại nóng lên như vậy...” (tr. 153-154 - Ðỗ Ngọc Yến, người của phố Little Saigon).
(III)
Câu chuyện về những người đi giữa hai lằn đạn ở cái đất Quận Cam này cũng như nhiều cộng đồng người Việt không phải là câu chuyện hiếm có. Ở đất nước mà tự do, dân chủ thừa mứa dường như dễ làm cho người ta hiểu lầm ý nghĩa thực sự của dân chủ và tự do. Ðành rằng công cuộc chống Cộng là việc phải của mọi người. Hoài nghi và cảnh giác cũng là quyền của mọi người, bởi vì chúng ta đã bị lừa phỉnh quá nhiều. Nhưng cáo buộc một người hay một đoàn thể nào là cộng sản hoặc thân cộng là điều cần phải thận trọng. Tố giác, gán ghép bừa bãi không chứng cớ và theo cảm tính rất dễ biến một người trở thành “người đi dưới hai lằn đạn”.
Năm 1976, nhân lúc công an cộng sản mở chiến dịch bắt tất cả những văn nghệ sĩ, nhà báo dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, họ lôi những người tù cải tạo nào từng làm báo, viết báo ra thẩm cung để tìm hiểu xem những nhà báo hay văn nghệ sĩ mới bị bắt có phải là những người mà họ gọi là những “Biệt Kích Cầm Bút” hay không. Tôi cũng là một trong số những người bị kêu đi khai cung suốt trong 5 ngày liền. Một trong những người mà họ hỏi đi hỏi lại là Ðỗ Ngọc Yến. Tôi còn nhớ viên công an thẩm vấn tôi ở Chí Hòa tên là Ba Tùng (tôi đoán đây là bí danh của anh ta). Viên sĩ quan công an này tự giới thiệu là người biết rất rành về điều mà hắn gọi là “bọn nhà báo biệt kích” vì trước đây hắn nằm vùng trong Phong Trào Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành. Tôi còn nhớ buổi sáng ngày hỏi cung thứ hai, Ba Tùng thảy vào mặt tôi bức hình chụp bán thân của một người gầy, cằm vuông, đeo kính trắng. Hắn hỏi tôi: “Biết ai đây không?” Quả thật là tôi không nhận ra ai, nên nói không. Hắn hỏi lại: “Không thật à”. Tôi cũng vẫn nói không. Ba Tùng đạp tôi một đạp và gằn giọng: “Bọn biệt kích văn hóa chúng mày mà không biết nhau à. Nó là thằng Ðỗ Ngọc Yến phải không. Ðồng bọn của mày là thằng nợ máu với nhân dân, một thằng biệt kích mà CIA dùng để chống phá cách mạng mày có biết không. Mày làm báo làm đài mà không biết tờ Ðại Dân Tộc à, nó là lãnh đạo của tờ báo này ai cũng biết mà mày không biết...?”
Bao nhiêu năm sau, sang được tới đây, vào làm ở tờ Người Việt lần đầu từ năm 1993 đến 1995, tôi lại nghe trong cộng đồng có người cáo buộc ông Yến và tờ Người Việt là Việt Cộng và là báo Việt Cộng. Nói khơi khơi, viết khơi khơi, dễ dàng, thoải mái, chẳng cần chứng cớ.
Cho đến nay, khi đọc lại “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè”, tôi mới được biết, một nhà báo khác, nhà báo Hoàng Hải Thủy cũng đã trải qua cảnh bị cảnh tra vấn như tôi nhưng vào thời điểm ông bị bắt lần thứ hai 1984. Trong bài “Biệt Kích Cầm Bút”, Công Tử Hà Ðông tức nhà văn nhà báo Hoàng Hải Thủy viết:
“...Bà con kẹt giỏ nghe đài VOA kể cả những văn nghệ sĩ Sài Gòn ngẩn ngơ giữa rừng cờ đỏ, không ai biết ông Lê Văn là ai, chỉ biết ông Lê Văn là ông Lê Văn. Bỗng dưng tuần báo Tuổi Trẻ, cơ quan ngôn luận của Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản thành phố HCM đăng một bài đả kích đài VOA, gọi đích danh Lê Văn đài VOA là ký giả Ðỗ Ngọc Yến. Anh Con Trai Bà Cả Ðọi, người anh em cùng vợ chàng Công Tử Hà Ðông từng có hân hạnh được quen biết ông Ðỗ Ngọc Yến từ năm nhà ông còn gần Ngã Tư Hàng Xanh xa lộ, rồi nhà ông ở đường Bùi Thị Xuân, trước cửa trường nữ trung học Nguyễn Bá Tòng. Ngày 25, 26 Tháng Tư anh còn gặp Ðỗ Ngọc Yến ở Sài Gòn. Ông và các ông Ðỗ Quý Toàn, Lê Tất Ðiều, Vũ Ngự Chiêu, Phạm Hậu, Phạm Huấn, Hà Huyền Chi, Thanh Nam... dzọt đi thật lẹ. Từ khi tờ Tuổi Trẻ loan tin Lê Văn VOA là Ðỗ Ngọc Yến, bang chúng cái bang Sài Gòn đều cho ông Ðỗ Ngọc Yến là ông Lê Văn Ðài VOA. Chẳng ai còn théc méc gì.”
“Bị bắt, anh Con Trai Cả Ðọi cùng người anh em cùng vợ mí anh là Công Tử Hà Ðông không thấy phiền hà gì với những buổi được gọi làm việc, tức là đi để bị thẩm vấn. Cai tù đến, dùng sâu chìa khóa đập mạnh vào cửa xà lim - Hán Việt văn huê gọi là biệt giam - và gọi “Hát... hát... tê đi làm việc...”
“Tôi viết được đi thẩm vấn vì phòng tù xã hội chủ nghĩa, nếu là phòng biệt giam tức xà lim, thì người là tôi nằm một mình quá buồn, muốn được ra ngoài cho khoảng khoát, muốn được nói chuyện đôi câu, dù là nói chuyện với kẻ thẩm vấn mình, nếu ở phòng tập thể thì phòng nhồi nhét quá đông người, bẩn, nóng, ồn ào, hôi thối. Mùi người. Ðụng chạm. Ðó là những gì có mặt thường trực... ở tất cả các phòng tù Việt Cộng nhốt nhân dân thân thương, nhốt những đồng bào của chúng ta không những chỉ ở thành Hồ mà còn là khắp nước Việt Nam đau khổ. Ðược gọi đi thẩm vấn ít nhất người tù cũng được ra khỏi cái phòng giam bẩn thỉu ấy trong vòng 2 tiếng đồng hồ, được ngồi tương đối thoải mái ở một chỗ tương đối vắn người, được công an Việt cộng mời hút thuốc là “Mai”, “Vàm Cỏ” v.v...”
“Trong một buổi thẩm vấn thường lệ khoảng Tháng Tám năm 1984, sau ngày bị bắt lần thứ hai chừng ba bốn tháng, anh công an Huỳnh Trung Thành mở cặp lấy ra quyển sổ bìa đen. Anh ta để một tấm carte nửa trong nửa ngoài, phần tên tuổi người trong tấn carte được che đi, chỉ cho tôi thấy bức ảnh căn cước cỡ 4x6, Thành hỏi tôi:
- Anh có biết ai đây không?
Tôi nhìn ảnh. Tôi gặp người trong ảnh này cuối Tháng Tư năm 1975. Bi giờ là Tháng Tám năm 1984. Thấm thoát dzậy mà đã 9 mùa lá rụng. Tôi tưởng mới gặp ông ấy ngày hôm qua. Tuy không được giao du thân mật với ông thân mật với ông nhưng tôi không làm sao quên được dung nhan của ông. Ông trán cao, tai lớn, mặt vuông cương nghị, đặc biệt ông mang cặp kính trắng cận thị hơi dầy.
- Nếu tôi không lầm thì đây là ảnh anh Ðỗ Ngọc Yến.
Và để lấy điểm tôi tự khai báo thêm:
- Anh này hiện ở Mỹ, nghe nói anh ta là Lê Văn đài VOA.
Tấm carte được lấy ra cho tôi xem. Chẳng cần nhìn tên tuổi cũng biết đó là Ðỗ Ngọc Yến...” (tr. 124-125)
Lê Văn là Ðỗ Ngọc Yến, Ðỗ Ngọc Yến là Lê Văn... Tài thiệt. Việt Cộng thường có cái tài nâng quan điểm, bé xé ra to, có cái tài trùm vào đầu người vô tội cái tội kinh khủng là “nợ máu với nhân dân” để bắt những ai chúng thù, chúng ghét, những ai ngược ý kiến với chúng. Ðã đành rồi. Nhưng không lẽ người quốc gia lại bắt chước cái thói ấy để chế ra những lý lịch một cách vô trách nhiệm vu oan giá họa cho người khác?
Khi định cư ở Quận Cam, những người viết báo trước kia ở Việt Nam, muốn vào làm một tờ báo Việt ngữ ở đây, cần khắc phục được trở ngại: cơm áo. Bên cạnh số thù lao do tờ báo trả thường không đủ sống, cần phải có một công việc thứ hai nếu muốn tiếp tục viết báo. Nhưng chính là trong tình trạng này, mới thấy Ðỗ Ngọc Yến kiên trì và yêu nghề báo đến mức nào. Có nhiều cách đánh giá khác nhau về sự thành công của một người làm báo Việt ngữ ở đây. Phan Thanh Tâm, một cựu phóng viên Việt Tấn Xã trước 30 Tháng Tư 1975 đánh giá sự thành công của ông Yến trong bài “Hiệp Sĩ Mù” như sau:
“...Tờ Người Việt Cali đổi tên thành tờ Người Việt, từ trong garage tiến lên thành cơ ngơi như ngày nay, tôi thấy tờ báo cả về nội dung lẫn hình thức đã tiến bước cùng theo sự thành hình và phát triển của cộng đồng Việt Nam. Chính những anh chị em được hấp thụ nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã vun trồng, nuôi dưỡng tờ báo để rồi trao lại cho thế hệ con em mình. Ngày nay, chính quyền địa phương muốn nói chuyện với cộng đồng, họ đến báo Người Việt.”
“Hiệp Sĩ Mù Ðỗ Ngọc Yến đã tạo một sự nghiệp dễ nể, đáng để giới giang hồ ca ngợi. Mình trần thân trụi xông pha làm báo từ thuở cộng đồng chưa thành hình thì phải nói là người có quá nhiều nhiệt tâm với báo chí. Tôi nghe nói thỉnh thoảng có kẻ hăm dọa tờ báo. Ở xa không biết rõ. Nếu có thì quả thật Ðỗ Ngọc Yến đã có tài chịu đựng và dám chấp nhận hiểm nguy...” (tr. 301)
Một thân hữu khác, nhà văn Thảo Trường lại có cách đánh giá khác về Ðỗ Ngọc Yến, qua bài “Mr Do Y.” với đầy cảm xúc:
“...Yến làm báo và hoạt động ở Sài Gòn từ trước 1975, nhưng tôi mới chỉ biết anh từ 1993. Mấy ngày đầu tiên sống trên đất Mỹ, tôi còn đang loay hoay lái xe thích nghi với đường sá và tốc độ lưu thông thì có điện thoại của Trần Dạ Từ, tôi đến nơi thì đã có Nhã Ca, Kiều Chinh, Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, Ðỗ Ngọc Yến, họ đang bàn chuyện xuất bản thêm tờ tạp chí ngoài hai tờ báo Người Việt và Việt Báo Kinh Tế đang phát hành. Tạp chí Người Việt Thế Giới ra được 8 số rồi ngưng vì mọi người muốn dồn nỗ lực vào hai tờ nhật báo sẽ ra 7 số một tuần. Tôi nhớ Yến đã nói với tôi: Anh muốn làm việc ở đâu cũng được, bên này hay bên kia (NV hay VBKT) tùy ý anh thích. Yến ân cần với tôi như thế, nhưng tôi đã không có một ngày nào làm việc ở tòa soạn hai tờ nhật báo đó. Và cho đến bây giờ, 13 năm qua, tôi vẫn chỉ mò mẫm làm việc một mình với cái computer trong căn phòng ở nhà. Tôi đã không hội nhập được vào ‘dòng chính’ ở đây và tôi cũng không cũng không nhập cuộc nổi với nghề làm báo ở nước Mỹ. In như ngày xưa ở Sài Gòn, Việt Nam tôi cũng không nhập được vào nghề làm báo chuyên nghiệp. Tôi chỉ đứng ngoài gởi bài tới các báo kiểu 'cậy đăng'. Tôi đã đóng góp bài vở cho các báo của các bạn khi gần Tết bằng cách click một cái attachment. Trong khi đó, các bạn tôi bây giờ đã làm truyền thông với kỹ thuật cao, có người đang điều hành những công ty đa truyền thông phức tạp một cách thuần thục như... Mỹ.”
“Bệnh nhân room 206 đang thiêm thiếp là một người đã làm báo và đạt đến trình độ ấy. Nay anh lâm trọng bệnh. Nghe tin, tôi đến thăm. Nhưng anh ngủ bình thản. Còn tôi đứng cuối giường nhìn anh mà lòng thương cảm. Nhớ những ngày cuối năm, mặc dù tôi không làm việc trong cơ sở báo chí của anh, anh vẫn thường xuyên cho người mang đến tặng tôi báo Xuân, chai rượu, hộp bánh, thiệp mời đến dự tất niên với anh. Anh vẫn nhớ tới lão nhà văn già lưu vong ẩn mình bên bờ đầm lầy Bolsa Chica.”
“Chợt tôi để ý tới ở đầu giường có tờ giấy, nửa trên ghi tên bệnh nhân, nửa dưới ghi tên bác sĩ điều trị. Tên anh là Do Y. Vâng anh Yến, bây giờ với dòng chính anh đã là Mr. Do, các chữ khác là phụ, có thể viết tắt, có thể không cần viết ra, nhưng family name thì phải viết rõ ràng. Chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Tôi sờ trán lấm tấm mồ hôi của anh, tôi nhìn gương mặt hiền hậu của anh. Chợt anh mở mắt mệt mỏi nhìn tôi hồi lâu sau anh gọi tên tôi, xong anh nói cám ơn...” (tr. 328-329)
(IV)
Hồi tôi làm tổng thư ký tờ Người Việt, lâu lâu lại thấy ông Yến dẫn một người vào giới thiệu với tôi và yêu cầu sắp xếp một phần đất nào đó cho ông ta viết bài. Tôi cũng từng trải qua những kinh nghiệm nên cũng biết rằng ông chỉ muốn giúp người này hay người kia có đất dụng võ trong nghề nghiệp. Tôi hiểu lòng tốt của ông cho nên dù biết nhu cầu của tờ báo không cần, vẫn cứ phải cắn răng tìm “đất” để cho họ viết bài. Cũng có người từ đó đến nay vẫn viết cho Người Việt, cũng có người thấy không kham nổi nghiệp viết lách nên bỏ ngang hoặc lâu lắm mới gởi một bài. Lòng tốt của một người tất nhiên có nhiều ưu điểm hơn là khuyết điểm. Ðiều đáng nói nhất nơi Ðỗ Ngọc Yến là tính tốt ấy của ông được thể hiện rất thoải mái, chẳng chút bận tâm như lời tác giả Tiểu Quyên qua bài “Ðỗ Ngọc Yến với phép Lăng Ba Vi Bộ”:
“...Không những bị người khác hiểu lầm đe dọa tính mạng và tài sản, nhiều khi Ðỗ Ngọc Yến còn vì tấm lòng rộng rãi gặp ai cũng thương nên lắm lúc khốn đốn vì cái tánh bác ái này. Chủ trương ‘thà để người phụ chứ không phụ người’, anh bao giờ cũng tìm thấy những lý do chính đáng để biện minh giùm cho những hành động đối nghịch của những người liên hệ với mình.”
“Bạn bè thường gọi Yến là 'Bồ Tát Mắt Mờ' vì đôi kính cận quá dày. Có khi anh phải ‘lén giúp đỡ’ vài ba nhân vật mà những người cộng sự với ông cho là ‘họ khá nguy hiểm’. Dùng tiền túi để thuê nhà giúp một du học sinh bị bỏ rơi, ký giấy tờ bảo đảm cho người quen di cư từ xứ khác đến Mỹ, hoặc đưa một người đang cần việc làm vô tòa báo dù cho báo chẳng cần người... đều là những chuyện Yến thường làm rất thoải mái, chẳng chút bận tâm! Những cộng tác viên của anh trong ban trị sự chỉ đành 'kêu trời như bọng' trước những quyết định thuần tình cảm đó...” (tr. 348)
Tình cảm mà Ðỗ Ngọc Yến dành cho bằng hữu, dành cho những văn nghệ sĩ, dành cho tất cả những người có liên quan hay không liên quan đến nghề nghiệp của anh đã được nhà văn Thụy Khuê mô tả bằng những từ ngữ trang trọng trong bài “Anh Yến”:
“...Nhiều người đồng hóa anh chị Yến với báo Người Việt. Ðiều đó đúng mà cũng chưa hẳn như thế. Phải nói là báo Người Việt mang tinh thần của anh Yến (tất nhiên là cả chị). Anh tế nhị, anh luôn luôn đứng đằng sau để dặn dò đằng trước, bởi anh không quên điều gì, từ việc chọn những đóa hoa cho một người bạn từ phương xa đến, hay phải đưa đón những ai, kể cả khi anh không có đó, anh cũng đã lo lắng, chu tất hết mọi việc từ trước. Anh Yến dặn, anh Yến bảo như thế, như thế...”
Khi anh Mai Thảo còn sống, anh Yến luôn luôn săn sóc anh Mai Thảo bằng sự hiện diện âm thầm. Anh Mai Thảo đi đâu là có anh Yến “tháp tùng”, nhưng anh luôn luôn đứng đằng xa, gần như vắng mặt. Tôi thích thái độ vắng mặt của anh. Khi anh Phạm Duy còn ở Mỹ, anh Duy đi đâu cũng có anh Yến: anh âm thầm bảo vệ anh Duy trong tất cả mọi tình huống. Tôi thích thái độ bảo vệ của anh. Chính anh Yến cũng là một nghệ sĩ cho nên anh hiểu nghệ sĩ hơn ai hết, anh có tâm hồn nghệ sĩ cho nên anh biết nghệ sĩ đích thực rất hiếm, nhân tài lác đác một vài trong thế kỷ mà kẻ giả nhân thì như rươi, và kẻ vùi dập nghệ sĩ thì không thiếu, kẻ không hiểu nghệ sĩ như rừng, kẻ muốn nghệ sĩ phải làm theo ý mình thì như biển...
“Trong cái chợ trời muôn mặt ấy, anh Yến trầm tĩnh đứng nhìn bằng đôi mắt đeo kính cận rất dày, anh cận thị nặng, bỏ kính ra thì hình như chẳng thấy gì, vậy mà anh lại rõ mọi chuyện hơn ai hết, thì ra anh nhìn bằng trái tim, anh thấy hết: thấy Mai Thảo lúc nào cần uống thêm, thấy lúc nào phải đưa Mai Thảo về... thấy lúc nào nên tổ chức đêm nhạc Phạm Duy, lúc nào nên tổ chức đại nhạc hội mừng Thái Thanh, nên vinh danh Kiều Chinh trong trường hợp nào, thấy nên đón tiếp các nhà văn trong nước và giúp đỡ họ trong những ngày họ ở Mỹ ra sao... đấy chỉ là những việc ai cũng nhìn thấy, còn bề sâu anh đã âm thầm giúp đỡ biết bao người khác, từ thuở chân ướt chân ráo tới Mỹ, làm báo garage, rồi cũng từ garage ấy, anh gây dựng lên cơ sở người Việt. Tôi thích sự âm thầm ấy của anh. Ai chẳng thích đặt mình dưới ánh sáng, trên trang nhất, anh xuống trang cuối, anh bước ra ngoài, không tham dự vào những thậm xưng, thậm ngôn, thậm vị...”
...
“Tôi nghĩ anh là người đầu tiên có tài năng và can đảm để xây dựng cái mà chúng ta gọi là cộng đồng người Việt hải ngoại tại Cali. Paris không có cộng đồng người Việt như thế, dù người Việt đến Pháp từ trước thế chiến, vì Paris không có báo chí theo đúng nghĩa của nó. Bởi tất cả đều bắt nguồn từ ngôn ngữ. Một cộng đồng không thể trỗi dậy và có sức sống mạnh, nếu không quy tụ trong ngôn ngữ riêng. Ðỗ Ngọc Yến đã tay không xây dựng nên cơ sở báo chí vững mạnh đầu tiên, cho một cộng đồng mới chân ướt chân ráo chưa tìm ra chỗ dựa của mình. Tại sao anh làm được như thế?”
“Bây giờ thì tôi biết rõ: vì anh trọng tình người và anh có ý thức sâu xa về xã hội.” (tr. 335-336)
Một nhà văn nữ khác, Trần Mộng Tú, đặc biệt chú trọng đến Ðỗ Ngọc Yến và bệnh. Ngoài lối viết rất nhẹ nhàng trong các truyện ngắn và lối làm thơ gây được cảm xúc ngay những dòng đầu tiên, nhà văn nữ này chú ý đặc biệt đến con người và bệnh tật. Bà đã biểu lộ sự quan tâm này đối với một người bạn cũng rất thân đã ra đi trước đó vì ung thư: anh Lê Ðình Ðiểu. Bà đã từng làm cho nhiều người đọc được bài “Tiễn Bạn” viết tặng chị Dung, người bạn đời của anh Ðiểu khi anh qua đời, cũng thấy đôi mắt mình mờ lệ:
...
Năm ngoái đón anh về đây
Chiếc xe thoảng mùi thuốc bắc
Chúng mình đặt bao hy vọng
Sắc trong nắm lá phơi khô
Hy vọng có bao nhiêu ngụm
Mình chia nhau mãi không đều
Có ngụm mặn như nước mắt
Dung giành lấy uống một mình”
Cách nhìn bệnh và người của Trần Mộng Tú thay đổi trong trường hợp Ðỗ Ngọc Yến. Trần Mộng Tú đã bày tỏ sự cảm phục trong bài viết ngắn “Người Ðùa Với Bệnh”:
“...Anh ra vào bệnh viện mấy năm liền, không phải chỉ bác sĩ y tá thuộc làu hồ sơ bệnh tình của anh, mà anh cũng biết hết tiểu sử của họ. Vào thăm anh, không bao giờ anh kể bệnh cho nghe, anh chỉ kể chuyện cô y tá mới này có đặc điểm gì, ông bác sĩ cũ kia có thói quen gì. Anh kể như người lấy notes để cho người khác viết bài, chỉ nghe anh kể không cũng hình dung ra được những nhân viên của bệnh viện này thế nào. Anh cũng chẳng bao giờ chê trách bác sĩ hay phê bình y tá, vợ con có than phiền thì anh nói mấy câu khôi hài gạt đi.”
...
“Khi chúng tôi ngồi trong tiệm ăn phở, cứ ngỡ anh sẽ nói về hôm nay lọc máu đau hay là không đau mà chỉ nghe anh rù rì kể tiểu sử của tiệm phở 79. Tiệm này có từ bao giờ, đây là tiệm phở thứ mấy ở Bolsa, tiệm mới ở đâu và bà chủ có mấy người con, con rể, con dâu tiệm phở này là ai. Rồi anh nói: Phụ Nữ Gia Ðình nên viết một bài về cái tiệm này. Lúc nào anh cũng nói chuyện làm báo được. Ðôi khi tôi nghĩ, nếu anh có thể xẻ thân ra làm ba bốn phần, mỗi phần đủ cả đầu mình chân tay thì chắc anh sẽ làm ba bốn tờ báo một lúc. Vì không xẻ được, nên thấy ai muốn làm báo, anh sẵn lòng ủng hộ, nhất là những người trẻ và anh luôn xúi người khác làm báo, bỏ cả tiền túi ra đưa cho người khác làm báo...”
“Với Ðỗ Ngọc Yến thì bệnh với anh là hai kỳ phùng địch thủ. Ðánh một trận rồi nghĩ, cả hai rút quân về, bên nọ gườm bên kia. Con bệnh của anh đâu biết là nó gặp một địch thủ rất lý, anh coi nó không có ký lô nào cả, thậm chí anh chẳng thèm gọi đến tên nó, chẳng cần biết nó có mấy thằng tính xúm vào đánh trộm anh, anh chẳng thèm đem chuyện đánh nhau với chúng nói cho ai nghe. Anh coi đó là trò đùa không quan trọng, dù là một trò đùa sinh tử. Một chọi ba, bốn. Khi nào bệnh nó mệt, cần dưỡng sức thì anh tha cho nó, anh lại đến tòa báo, lại cho ý kiến, lại bàn nên viết thêm cái này, thay đổi cái kia. Anh thú thật, mắt đã không nhìn rõ rồi nhưng vẫn có thể nghĩ mưu. Khi nào bệnh lấn lướt thì anh nhịn nó, chỉ nhịn thôi chứ nhất định không hàng...” (trang 355-356).
(V)
Trước khi vào làm tờ Người Việt ở giai đoạn đầu, tôi vẫn nghĩ tờ báo này cũng như hàng chục tờ báo Việt ngữ khác mà tôi đã đi vơ về từ các chợ để đọc mấy tháng đầu khi đến định cư tại Hoa Kỳ giữa năm 1992.
Cuối năm 1992, tôi được Giáo Sư Nguyễn Huy Hân trao cho việc lo tờ nguyệt san Bách Việt. Làm đâu được mấy số thì báo đình bản vì hết tiền. Tòa soạn của tờ Bách Việt lúc đó chính là căn studio mà ông xếp cũ của tôi, cựu Hệ Thống Trưởng Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia Phạm Bá Cát thuê cho tôi ở tạm, gần anh Mai Thảo trong khu Christian Home thường gọi là ngõ Song Long. Xếp tôi nhận trả tiền nhà trong 3 tháng liên tiếp, sau đó thì tôi phải tự túc. Nhưng đúng tháng ông phải “dứt sữa” tôi thì tờ Bách Việt cũng đóng cửa. Nhưng may mắn thay, chưa đầy một tuần, ông chạy cho tôi một việc làm ở tờ Saigon Nhỏ. Tôi lãnh được đúng 4 cái checks cho 4 tuần thì bị ông Phước cám ơn. Cầm cái check tôi vào thẳng nhà băng Lippo ở Phước Lộc Thọ lãnh 200 đô la bỏ túi rồi lái xe đến Jack In The Box, Burger King, chợ Alpha Beta nộp đơn xin việc mà tôi tìm thấy trong mục Help Wanted trên tờ Register. Hai ông Box và King thì nói “Ông cứ về tôi sẽ gọi”, có nghĩa là nhìn số tuổi tôi ghi trên đơn, họ nói khéo như vậy. Chỉ có chợ Alpha Beta là hẹn ngày phỏng vấn. (Alpha Beta là khu chợ Mỹ ở vị trí mà bây giờ là chợ ABC). Hứng chí, tôi ra ngân hàng Bank of America nộp đơn xin việc vì tôi nghe một tên bạn báo cho biết ở đấy đang tuyển vài ba chân janitors. Ðến nơi hỏi thì họ nói vẫn tiếp tục nhận đơn. Lập tức, tôi xin mẫu đơn điền vào rồi đứng xếp hàng sau khoảng hơn 20 chục anh Mễ. Thấy đã nản rồi vì chắc chân janitor này không đến tay mình. Nhưng may quá, khi nhận đơn họ nói sẽ gởi thư hẹn ngày phỏng vấn.
Sau đó, tôi ghé vào Hòa Bình mua 2 phần cơm, một cho tôi, một cho anh Mai Thảo theo lời dặn của anh ấy. Những ngày chờ đợi, tôi hay sang chơi với anh Mai Thảo khi nào thấy anh ấy tỉnh rượu hoặc sang gõ cửa phòng anh hỏi xem anh có cần mua cơm hay quét dọn phòng không. Thỉnh thoảng chúng tôi có nói chuyện với nhau về báo bổ ở quận Cam. Nhưng nghe ông Mai Thảo nói thì chẳng muốn trở lại nghề báo nữa. Một hôm đang ngồi sử dụng lại máy computer để bảo đảm mình không quên sự vận hành của nó thì Tuyển đến. Lúc đó Nguyễn Tuyển đang làm địa ốc. Tuyển quăng cho tôi phần cơm và nói: “Mày đến gặp Ðỗ Ngọc Yến bên Người Việt. Nó đang cần một biên tập viên”. Sáng hôm sau tôi đến tòa soạn. Thế là tôi bắt đầu làm biên tập viên cho Người Việt từ giữa Tháng Ba năm 1993, sau khi Nguyễn Xuân Hoàng bắt tôi dịch vài bản tin để thử trình độ Anh ngữ của tôi.
Mãi sau này, tôi mới được biết rằng thật ra thiếu biên tập viên tin tức thì không thiếu, nhưng Ðỗ Ngọc Yến vì muốn giúp tôi một công việc lúc chân ướt chân ráo sang đây cho nên anh nhận tôi. Phần nữa, anh là người có cái nhìn khá xa về sự phát triển của tờ báo. Khi vào làm tờ Người Việt rồi, được biết những anh em khác tập trung quanh Yến đều là những người đã từng có thời hoạt động thanh niên và học đường lẫy lừng. Thập niên 1970 khi ông Hoàng Ðức Nhã sang điều khiển Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, ông đã thực hiện ngay một loạt kế hoạch nhằm trẻ hóa hàng ngũ những người làm tuyên vận và những chỉ huy cấp tỉnh, vùng. Những cấp chỉ huy này phải tốt nghiệp đại học và có một số kinh nghiệm về tuyên vận, sinh hoạt thanh niên và xã hội. Vì thế khi cấp chuyên viên tuyên vận hạng A ra đời tại Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, những đồng đội với ông Yến trước đây như Ðỗ Tăng Bí, Phạm Phú Minh, Lê Ðình Ðiểu, Trần Ðại Lộc, Hà Tường Cát... cùng nhiều người khác đã gia nhập cánh trẻ trong ngành tuyên vận với hy vọng đóng góp để làm hữu hiệu hơn guồng máy tuyên truyền đối đầu với Cộng Sản khi cuộc chiến càng ngày càng căng thẳng. Phải nói rằng những hạt nhân thành lập và phát triển tờ Người Việt đã có một quá trình hoạt động gắn bó với nhau rất lâu từ thuở còn là học sinh, rồi sinh viên, ra đời làm việc, ngay cả khi họ gia nhập quân đội, tù đày và cho đến bây giờ. Người sang trước đón người sang sau và họ đều đến trú ngụ dưới mái nhà của tờ Người Việt.
Trong suốt thời gian ba năm đầu làm việc với tờ Người Việt, tôi cũng đã có đủ thời gian để đánh giá lòng say mê báo bổ của anh Ðỗ Ngọc Yến. Hầu như không có tuần nào là anh không thúc giục mọi người học computer hay nói cả giờ đồng hồ về ảnh hưởng của computer trong giai đoạn đó và trong tương lai gần. Cũng không tháng nào là anh không nhắc nhở mọi người là viết cái này, khai thác điều kia. Vì trong đầu lúc nào cũng lổn nhổn những kế hoạch và chương trình cải tiến nên có khi anh đánh trống bỏ dùi. Ðỗ Tăng Bí, người hoạt động sát sườn với Ðỗ Ngọc Yến đã mô tả những cái dùi trống của Ðỗ Ngọc Yến ở trang 53 bài “Ðỗ Ngọc Yến thuở thiếu thời”:
“...Người ta thường nói đến những cái dùi trống chất đầy trong garage nhà anh. Ngụ ý mấy chữ châm biếm trên để chỉ nhiều chuyện anh Yến bắt đầu nhưng không kết thúc y như anh đánh trống rồi bỏ dùi đâu đó. Gần gũi anh, tôi biết rằng đa số những hồi trống mà anh dóng lên thường là những chuyện cần thiết, hoặc cho lúc đó, hoặc cho mai hậu. Nhưng với lối làm việc team-work, không tự quyết định độc đoán, không dễ gì anh tìm được những người chia sẻ với anh và thực hiện những dự định lớn lao và cần thiết nên anh đành để đó, sau hãy hay” (tr. 53)
Vậy mà theo lời Ðỗ Tăng Bí, chính Ðỗ Ngọc Yến đã phải đi dẹp những dùi trống của kẻ khác để lại. Ðỗ Tăng Bí đưa ra một điển hình và quý vị độc giả khi đọc câu chuyện này thông cảm anh Yến hơn. Bí viết:
“Khoảng giữa năm 1993, một nhóm vài vị khá tiếng tăm và giàu có mang lòng từ thiện họp nhau bàn việc cấp một ít học bổng cho mấy bác sĩ ở Việt Nam đi tu nghiệp Hoa Kỳ. Họ nhờ một tổ chức y tế ngoại quốc đang làm việc tại Việt Nam tuyển chọn các ứng viên trong số bác sĩ trong nước. Các ông bắt đầu bằng việc đưa sang California một cô bác sĩ trong ngành chống bệnh truyền nhiễm, phù hợp với ý định của tổ chức ngoại quốc muốn giúp Việt Nam chống sự lan truyền của bệnh AIDS. Và anh Yến được mời tới họp với họ vì anh là chủ nhiệm một tờ báo có uy tín. Năm, sáu nhà từ thiện góp mỗi người một ít tiền mua vé máy bay cho cô bác sĩ qua miền Nam California. Các ông xin cho cô được tu nghiệp ở một bệnh viện thuộc trường đại học trong vùng để học hỏi rồi về nước giúp đồng bào. Và họ nghĩ như vậy là xong việc thiện.”
“Nhưng còn chuyện cô bác sĩ này sẽ ở đâu, ăn uống, di chuyển như thế nào trong suốt thời gian ở California thì không ai đứng ra lo, không ai chịu bỏ tiền ra cả. Vì cô bác sĩ có số điện thoại của anh Yến nên cô gọi và hỏi anh phải làm sao. Anh Yến lại về cạy cục đâu với vợ anh, chị Loan, được ít tiền để cô ta có ngay mà dằn túi. Anh tìm tôi: Bí này, có cách nào lo chỗ ở cho cô ấy không nhỉ. Ngay hôm đó thì không có cách gì đi thuê nhà ngay cho cô, mà gởi vào khách sạn thì tiền đâu ra, tốt nhất là rước cô về nhà, đó là nhà tôi. Vợ chồng tôi qua ở phòng con trai, nhường phòng cho cô, con trai tôi ra phòng khách. Gọi là tạm cũng mất đâu hơn một tháng. Phải tìm một phòng trọ ở gần ngay nơi cô tu nghiệp, đỡ chuyện xe cộ đi lại. Tiền thuê apartment lúc đó mỗi tháng cũng mất năm, sáu trăm, ít nhất phải trả một năm tiền nhà, còn tiền ăn uống của cô, rồi đồ dùng linh tinh, từ cái TV, giường nằm, bàn làm việc, rồi mùa lạnh tới cần quần áo phù hợp, rồi tiền quà cáp những ngày Thanksgiving, Giáng Sinh, giúp cô ít tiền gởi về nhà... cũng phải có đủ. Tôi không biết anh Yến xoay đâu ra ngần ấy thứ, cứ đưa tôi dần dần để tôi lo liệu. Có những tháng, anh chưa xoay kịp tiền, chúng tôi phải nghe những cú điện thoại chửi rủa của chủ nhà và phải è cổ ra trả tiền phạt vì hai vợ chồng tôi là người đứng ra ký hợp đồng thuê nhà cho cô ta. Hoàn cảnh chúng tôi lúc đó không thể góp nhiều với anh được. Chuyện tiền nong coi như xong, nhưng còn tin đồn lúc đó anh Yến có bồ đi thuê nhà cho cô ta ở thì giải thích làm sao? Hôm nay, lần đầu tiên tôi kể lại chuyện dùi trống này để chị Loan hay ai đó mười mấy năm nay vẫn nuôi thắc mắc có thể giải tỏa từ đây. Nhưng chính cô bác sĩ đó cũng tưởng là được “Mỹ” giúp, không biết ai là những người thật sự lo cho cô. Các hướng đạo sinh làm việc thiện thì không nên cho người thụ hưởng biết...” (tr. 96)
Thực sự ra chuyện làm “công quả” của anh Yến, theo chỗ các bạn hoạt động chung với anh từ 40 năm trước cho biết, thì rất nhiều, không kể hết được. Ngày tôi trở lại làm việc ở tòa soạn Người Việt lần thứ hai (2002), cả tòa soạn đã chứng kiến cảnh anh hao tâm tổn trí, tốn tiền để tổ chức cái này cái kia, tập họp nơi này nơi nọ và cuối cùng nhận lãnh những búa rìu dư luận. Nhưng chẳng bao giờ thấy anh “trả lời trả vốn gì”. Trong suốt thời gian tôi ngồi ở ghế tổng thư ký, tôi hiểu rằng người mà anh Yến quan tâm nhất vẫn là tôi. Anh biết tôi là người hay “mó d... ngựa”, một người chưa học hết được chữ nhẫn, một người không hề biết phép lăng ba vi bộ... có thể làm hỏng việc của tòa soạn nên thỉnh thoảng có nhắc nhở tôi, nhắc nhở chứ không bao giờ anh bảo tôi phải làm cái này hay cái kia. Có một số điểm tôi không đồng ý với anh, nhưng nói chung tôi phải nhận ra rằng, trong 3 năm làm việc ở tờ Người Việt giai đoạn II, tôi học hỏi được ở anh nhiều điều hữu ích. Nó giúp tôi nhìn vấn để chín chắn hơn, bỏ qua những gì có thể bỏ qua được để tránh bực bội và đi tiếp đoạn đường ngắn cuối cùng của nghề nghiệp.
(VI)
Trong tất cả các bài của 53 tác giả, phần lớn hình ảnh Ðỗ Ngọc Yến thường được mô tả bằng những kỷ niệm vui vui, pha chút ngộ nghĩnh của những người bạn đã từng có giai đoạn hoạt động, hay từng làm việc với anh. Riêng tác giả Ðỗ Quý Toàn trong bài:”Yến, từ những ngày tuổi trẻ” đã mô tả chân dung Ðỗ Ngọc Yến, một nhà báo với những hình ảnh rõ rệt. Ở trang 53, tác giả Ðỗ Quý Toàn cho rằng tính tò mò là một trong những đức tính căn bản của một nhà báo. Không có đầy đủ đức tính này, một nhà báo không thể làm đầy đủ trách nhiệm tường thuật. Ðỗ Quý Toàn viết:
“...Yến rất thích đọc những tin lạ, tìm liên hệ giữa các mẩu tin rời, theo dõi những âm mưu chính trị hậu trường. Yến chú ý đến những tin tức khi mới nghe thì rất nhỏ nhưng sau đó lại có ảnh hưởng lớn tới thời sự, hoặc có ý nghĩa lớn đối với xã hội chung quanh. Trong đầu anh chàng chứa đầy hồ sơ những thông tin, chứa sẵn để sau đem sử dụng.
Yến cũng thích chính mình đi tìm những tin tức hậu trường. Khi vào nghề báo là Yến bắt đầu lang thang trên các quán đường Tự Do, đường Nguyễn Huệ, gặp các phóng viên ngoại quốc và những ký giả Việt Nam làm cho các hãng thông tấn nước ngoài. Họ đều có những nguồn tin riêng vì họ quen các viên chức trong chính phủ hoặc trong quân đội và nhiều người nể nang họ. Sau khi ngồi uống cà phê với Cao Dao ở Givral về, Yến thường kể với tôi những chuyện mới nghe được, hoặc nhận xét của anh Cao Dao về hậu trường chính trị Sài Gòn. Thường đó là những nhận định rất lý thú vì anh Cao Dao biết nhiều chuyện hành lang mà anh lại có tài tổng hợp rất nhanh, đặt mỗi chuyện trong bối cảnh của nó. Cũng như Yến thích nói chuyện với anh Như Phong, một người biết rất nhiều về hậu trường chính trị Việt Nam từ 1940 đến 1970. Yến học được thói quen và khả năng tổng hợp của những bậc đàn anh đó...”
Khi mở mục “Hành Lang Mật” trên báo Ðại Dân Tộc, Ðỗ Ngọc Yến dường như muốn thực hiện tất cả những hiểu biết của anh từ những tin tức hành lang, nghĩa là những tin không được chính thức phổ biến, nhưng phạm vị chỉ trong giới hạn những tin tức từ các phiên họp “bốn bên” ở trong căn cứ Tân Sơn Nhất sau Hiệp Ðịnh Paris mà thôi. Mục này đánh trúng tâm lý của độc giả Sài Gòn và Miền Nam lúc đó chỉ tò mò về những chuyện bên lề. Lý do, theo tác giả Ðỗ Quý Toàn là vì người ta không biết “bọn Việt Cộng này ăn ở ra sao, người ngợm như thế nào, trông họ có giống người mình không.” Ðỗ Quý Toàn nhấn mạnh thêm trong bài viết:
“...Từ trong rừng đi ra, họ ở ngay bên cạnh thành phố, chỉ cách mình mấy hàng rào kẽm gai mà không ra tới đường cái, dân chúng không mấy ai được trông thấy họ. Hai phái đoàn Việt Cộng trong Tân Sơn Nhất giống như một đoàn xiếc lạ tới trình diễn, họ diễn ngay gần nhà mình nhưng lại chỉ biểu diễn cho một đám nhà báo tới coi mà thôi. Bàn dân thiên hạ thắc mắc, tò mò đúng như những khán giả phải đứng ngoài cửa rạp không được coi xiếc... Ðỗ Ngọc Yến là người đi coi và quan sát đoàn xiệc đó, lân la gặp hỏi chuyện họ, nhưng rất khó được. Một cách khác là moi tin tức và giai thoại qua những sĩ quan và nhà báo quân đội VNCH có cơ hội tiếp xúc với họ rồi đem về kể lại cho anh em nghe trong mục Hành Lang Mật. Ðúng là cái máu tò mò của một nhà báo. Cái tính này bẩm sinh và không bao giờ bỏ được...”
Khi dựng lên tờ Người Việt ở California, Yến lập lại mục Hành Lang Mật để kể những chuyện khác trong đời sống di tản. Sau này có người nhái lại ba chữ đó để viết về Dinh Ðộc Lập. Những người có óc tò mò để viết những loại tin hành lang mật rất hiếm bởi vì thể loại này đòi hỏi một số điều kiện về thời sự, tính tò mò bất hại, không ác ý, không thêu dệt và phải lương thiện để loại tin hành lang đó trở thành ích lợi chung cho xã hội chứ không phải trở thành một thứ thông tin không chính thức phương hại đến cá nhân hay cộng đồng. Tác giả giải thích thêm về đặc tính này:
“Mạng lưới thông tin chính thức và không chính thức giúp mọi thành phần sống cùng xóm cảm thấy họ liên hệ, gắn bó với nhau. Nó giải thích các hiện tượng xã hội, những vụ li dị, những nét mặt khó hiểu, nó nối kết những tình cảm vui buồn, giải tỏa các u uất chung cho cả một tập thể con người, giống như những kinh mạch vận chuyển trong một cơ thể. Tin tức mà bị ngăn chặn giống như kinh mạch bế tắc sẽ sinh ra những biến chứng có thể sinh bệnh lúc nào không biết.
“Yến mang trong mình 'cái bản năng thông tin' rất nhân loại đó nên tự nhiên phải thành một nhà báo, mặc dù chàng thiếu rất nhiều đức tính khác của một ký giả, thí dụ như anh chàng rất lười viết và khi viết thì ý tưởng chạy nhanh hơn tay viết, như chân chạy lạng quạng.
“Mấy năm gần đây khi vào nhà thương Fountain Valley (lâu lâu Yến lại vô nằm đó cả tuần lễ để thưởng thức cái cuisine bệnh viện), anh chàng vẫn giữ máu tò mò nhà báo như vậy. Vào thăm đứng bên giường bệnh, chẳng bao giờ nghe Yến kể đến bệnh tình của mình. Lâu lắm mới nghe Yến nói đến việc điều trị , cốt để trấn an người đến thăm. Nhưng bạn bè có thể nghe anh chàng kể: ‘Cái bà y tá này có hai đứa con, thằng lớn nó bỏ học... ’ ’ hoặc là ‘Cái anh bác sĩ ấy, bà vợ hắn hồi xưa cũng học Văn Khoa... ’ ’
“Mà không phải Yến chỉ tò mò vì thích tìm hiểu thế giới nhân loại chung quanh như khách du lịch đi coi sở thú, hoặc một nhà quan sát từ hành tinh khác đến trái đất nghiên cứu về loài người. Yến thật sự quan tâm đến từng người, đến từng nhân vật trong bản tin ‘hành lang bệnh viện’ của mình. Cái bà y tá vẫn đến đo máu hoặc lấy nhiệt độ cho Yến có thể chứa đựng một bản tiểu sử đầy nước mắt, mấy anh bác sĩ trông nghề nghiệp như vậy nhưng đã trải qua bao nhiêu gian khổ trong cuộc đời. Chẳng hạn có anh hồi ở Việt Nam vào quân y bị các sếp đẩy ra mặt trận bao nhiêu lần mà vẫn không chết, có lúc cứu sống cả mấy thằng Mỹ hay mấy thằng Việt Cộng bị thương. Có anh sang Mỹ đi rửa chén mất mấy năm rồi mới học lại lấy bằng, tiêu biểu cho những người tị nạn đến nước Mỹ, dứt bỏ hết quá khứ, bắt đầu lại cuộc sống từ số không. Nhưng bây giờ anh ta đang tự hỏi, chưa biết mình sống thế nào cho hữu ích như hồi sống ở Việt Nam...”
(VII)
Trong khoảng thời gian 1994-1995 lúc đang ngồi ghế biên tập viên tin trang địa phương, thỉnh thoảng tôi được kêu ra phía sau giúp một tay chuyển một xe sách từ trên chiếc xe cà khổ của ban phát hành vào trong thư viện. Sách ở mà nhiều thế, trong thư viện không còn chỗ nên chúng tôi quẳng đại trên nền nhà. Yến hay đến các thư viện Mỹ mua lại sách cũ. Mỗi lần đi như vậy, anh thường mua một xe. Giá của một xe sách cũ ở thư viện không là bao, nhưng vấn đề là chỗ chứa. Cho nên, khoảng thời gian đó, nếu ai vào tòa soạn Người Việt, bước vào khu thư viện, phòng làm việc riêng của Yến hay hành lang khu vực biên tập sẽ thấy la liệt những đống sách. Ðỗ Ngọc Yến đọc không ngưng nghỉ và đôi khi tôi thấy anh xé toạc một vài tờ rồi gấp lại đút vào túi.
Mười năm sau khi đọc “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè”, thấy một đoạn Ðỗ Quý Toàn viết về “con mọt sách này”:
“...Ngay từ hồi mới quen nhau, thưở 17, 18 tuổi, tôi nhiều lần ngạc nhiên vì cái anh chàng này sao nó biết và nhớ nhiều thứ thế. Sao nó quan tâm đến nhiều chuyện, nhiều người thế. Hắn mắc tật ham đọc ngốn nghiến đủ các thứ sách vở, báo chí, trăm thứ bà rằn. Ðạp xe trên đường Pasteur, Yến bỗng nhận ra một ngôi nhà: Ngày xưa Nguyễn An Ninh diễn thuyết ở chỗ này, này. Ði qua Phú Nhuận, Yến bỗng chỉ tay: Bên trong đó có cái Mả Ngụy, vào coi đi ? Nói đến Voltaire, anh chàng có thể kể ngay câu chuyện hồi bà nhân tình của ông ta có bầu sắp sinh trong lúc chồng bà ta đi vắng, Voltaire đã cùng một anh nhân tình trẻ khác của bà ta lo lắng đưa bà đi đẻ (Ðứa con sống, nhưng bà mẹ chết, tội nghiệp, hình như bà chưa tới 40 tuổi). Có lúc Yến nói câu bất ngờ giải được khúc mắc trong lòng người.
“Một đêm chúng tôi đi vòng quanh Hồ Xuân Hương ở Ðà Lạt, vừa đi vừa bàn chuyện triết lý lung tung, những thao thức băn khoăn về kiếp người. Cái thuở thanh niên mới lớn, ai cũng muốn đặt lại tất cả vấn đề căn bản của nhân loại, như những người lần đầu tiên biết suy nghĩ! Khi trở về đứng tâm sự thêm với nhau trên lề đường trước cửa nhà số 2, Ngô Quyền, lại nói tiếp không muốn đi ngủ. Tôi bỗng thấy mình như khám phá ra một mấu chốt của các mối băn khoăn trong lòng, tôi nói với Yến một cách nghiêm trọng: Cuối cùng phải biết mình là cái gì đã. Yến trả lời ngay: Thì ông Socrate cũng nói vậy. Tôi chợt ngẩn người ra. Cái anh chàng này đã chứa một câu trả lời sẵn, ai cũng biết nhưng vẫn rất bất ngờ. Hóa ra bao nhiêu suy tư xao xuyến của mình chẳng có gì mới hết...” (tr. 66)
Vẫn theo lời tác giả Ðỗ Quý Toàn, cái tính ham đọc của Yến không có giới hạn, nhưng tuổi trẻ miền Nam vào thời đó rất thích bàn chuyện triết học. Ðỗ Ngọc Yến là khách hàng thường xuyên của tiệm bán nhiều sách Triết từ Tây qua, kể cả những sách của các tác giả trong thế giới cộng sản, hoặc là một tiệm bán sách cũ trên vỉa hè đường Lê Lợi chuyên bán và cho thuê những thứ hàng quốc cấm. Tác giả Ðỗ Quý Toàn cho biết:
“...Chúng tôi chia nhau đọc những cuốn truyện cấm, nhờ vậy tôi học thêm được nhiều tiếng Pháp mà các thầy ở Chu Văn An không dạy. Sau này, sang Québec sống, tôi vẫn không hiểu tại sao mình lại hiểu được tiếng Pháp và nói được lõm bõm, mặc dù ngoài giáo sư Trần Ðình Ý ở Chu Văn An thì không đi học đâu hết. Một phần chắc vì đã đọc say sưa những cuốn sách mướn ở đường Lê Lợi nên tiếng Pháp nó thấm vào, phần khác vì đi coi phim nói tiếng Pháp phụ đề Việt ngữ, chỉ đọc phụ đề thôi chứ không thèm nghe, nhưng âm thanh nó vẫn lọt vào đầu lúc nào không biết. Ấy trời sinh ra xi nê nó cũng có ích thế!
“Tôi thường đi xi nê với Yến ở rạp Vĩnh Lợi, Lê Lợi. Thuở đó có mấy người bạn thân hay bao tôi đi coi chiếu bóng là Dương Ðình Hưng, Hà Dương Hùng và Ðỗ Ngọc Yến, vì tôi thường không có tiền mua vé. Duy chỉ có Yến là hay cùng tôi đẹp xe đạp lang thang, trước hoặc sau khi đi coi hát, còn Hùng và Hưng đều hiền lành chân chỉ, không có máu lang thang. Chính Yến đã giới thiệu cho tôi biết cái quán của mấy chú ba Tàu bên cạnh Kho Bạc, tới đó mỗi thằng mua một cốc bia hơi chỉ đủ tiền mua một miếng phá lấu xiên bằng tăm, đứng cầm tăm mà nhậu, nhìn người qua, kẻ lại bàn tán chuyện đời...” (tr. 68)
Máu thích lang thang của Ðỗ Ngọc Yến rất thích hợp với vai trò người làm báo. Ðỗ Quý Toàn đã viết như vậy ở trang 69 và anh còn khẳng định là nếu không ham đi, chắc Yến cũng không đi làm báo làm gì. Vẫn theo tác giả Ðỗ Quý Toàn, hễ có dịp đi là chàng nhảy liền, hãy đi đã, rồi tính chuyện đi làm cái gì sau. Chính cái máu ham đi đã dẫn Yến sang nước Mỹ chứ chẳng có xịa (CIA) nào hết. Cũng như cái máu phiêu lưu đã “đưa anh chàng nhiều lần ra thăm chiến địa suốt thời gian chiến tranh, lăn lộn vào chỗ sống chết mặc dù không ai bắt buộc mình cả...” Ở trang 70, tác giả Ðỗ Quý Toàn viết:
“Hồi những năm 1966-1967, Ðỗ Ngọc Yến chuyên đi những trại công tác thanh niên giúp đồng bào tị nạn ở Cam Lộ, Ðông Hà. Anh chàng cũng phụ trách chương trình đón du học sinh Việt Nam về thăm quê hương năm 1972 do Bộ Thông Tin Chiêu Hồi tổ chức, dù chính anh chàng không hề làm công chức bộ này ngày nào. Những công việc làm tự nguyện này chắc cũng vì cái tính thích đi đây đi đó, nhất là với các bạn trẻ, các cô. Cái tính lang thang này chúng tôi chia sẻ với nhau từ nhỏ, nhưng tôi không ghiền nặng và cũng không liều lĩnh như Yến. Hồi quân đội VNCH hành quân sang Căm Bốt, Yến là phóng viên đầu tiên của tòa báo sang Nam Vang, theo tàu hải quân đến Neak Luong, nên khi về có biết bao nhiêu chuyện để kể...
“Một bữa gần Tết, Yến bảo tôi: Mai có chuyến bay, mình đi Pleiku. Lúc đó, chiến trường cao nguyên đang nóng. Có chuyến bay tiếp tế cho tiền đồn, ủy lạo chiến sĩ, có chỗ trống là Yến theo liền. Hôm đó, về nhà, tôi tưởng tượng nếu mình cũng được bay trên chiếc phi cơ vận tải ngày mai, sẽ xa mẹ, xa vợ con trong một ngày giáp Tết, mình sẽ nhìn xuống rừng núi xanh trùng điệp, rải rác đây đó những hố bom để lộ mặt đất cao nguyên đỏ lừ và nhiều đám khói súng, khói bom bay lượn trên màu rừng. Tôi viết mấy câu thơ tựa là: Cuối năm tiễn ông Yến lên Pleiku làm phóng sự. Còn nhớ mấy câu như:
Khi anh bay qua Trường Sơn
Ngó xuống rừng lổ chổ
Anh chợt nghĩ Xuân về
Ðồi xanh hoa vẫn nở!
Năm nay không chừng yên
Trên mây nhiều dấu lạ
Ðêm ngủ có mộng lành
Thấy thằng em giải ngũ...
(VIII)
Tính giang hồ vặt của Ðỗ Ngọc Yến và riêng việc lui tới Ðàm Trường Viễn Kiến cũng đã được tác giả Ðỗ Quí Toàn đến với những chi tiết đáng chú ý về suy nghĩ của lớp thanh niên thời đó. Chính tác giả cũng không nhớ ai đã rủ rê tác giả và Ðỗ Ngọc Yến tới Ðàm Trường Viễn Kiến của cụ Nguyễn Ðức Quỳnh để “nghe các đàn anh bỏ kháng chiến về thành nói chuyện văn nghệ, chính trị, triết học”. Theo tác giả Ðỗ Quí Toàn trong “Yến, từ những ngày tuổi trẻ” thì “hầu hết ai cũng bị ám ảnh là phải vượt qua chủ nghĩa Marx”. Lúc đó Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp đang bi mấy tờ báo “chửi” vì thơ tự do của các anh in trên tờ Sáng Tạo. Nhóm Quan Ðiểm đang lập thuyết, đề cao vai trò của giai cấp tiểu tư sản trong lịch sử - hồi đó báo chí chưa dùng chữ giai cấp trung lưu như sau này. Ðỗ Quí Toàn nhấn mạnh trong đoạn mô tả Ðàm Trường Viễn Kiến:
“...Ngôi nhà cụ Quỳnh nhỏ, mái thấp, hình như tường và cách ọp ẹp lắm, nằm trong hẻm chùa Từ Quang của thầy Tâm Châu trên đường 20, Phan Thanh Giản. Cụ Quỳnh bà lâu lâu cũng ra ngồi góp mấy câu chuyện cũ. Nghe cũ bà nói thì thấy rõ có một thời cụ bà đã từng là một nữ lưu quắc thước bên cạnh ông chồng chiến sĩ văn nghệ.”
Duy Sinh (Nguyễn Ðức Phúc Khôi) là con lớn của hai cụ, nhưng ít khi anh dự các cuộc thảo luận, chắc anh đã nghe ông già nói suốt đời rồi, đã thấy đủ. Mấy chú Kình, Kỳ thì còn là nhi đồng. Mỗi tối Thứ Sáu họp mặt, cụ Quỳnh mở toang cửa trước, cụ bảo để thảo luận công khai không hề giấu giếm. Cốt cho công an, mật vụ của các ông Diệm, ông Nhu tha hồ đến nghe mấy ông văn nghệ văn nghẻo đọc văn ngâm thơ oang oảng, rồi về báo cáo, khỏi ai nghi ngờ thắc mắc. Hồi năm 1963, cụ Quỳnh có bị bắt, chắc vì cụ hay qua lại thăm thầy Thích Tâm Châu. Bây giờ năm 2005 mà ở Hà Nội, Sài Gòn có những cái đàm trường như vậy thì vui nhỉ? Bây giờ có web, nhưng không có cái không khí vừa thoải mái vừa công khai một cách ngạo nghễ, vô úy vô kỵ như ở Ðàm Trường Viễn Kiến thời đó.
“Cụ Quỳnh chuyên môn mặc bộ bà ba nâu kiểu người Bắc, tay cầm quạt, cụ chuyên hút thuốc Bastos đỏ, chuyên bẻ điếu thuốc làm đôi, mỗi lần chỉ hút một nửa điếu. Ở cái đàm trường đó, Ðỗ Ngọc Yến, Trần Dạ Từ, Nguyễn Trung và tôi thuộc lớp nhỏ tuổi nhất. Trần Dạ Từ, Viên Linh thường ngâm thơ. Nghiễm đọc những truyện ngắn mới. Phạm Duy đến đó hát những bài tình ca mới viết cho một cô Lan mà Yến lại là người chuyên đi liên lạc với cô giúp cho đàn anh. Cái vụ đi giúp đó cũng thú vị như đi làm gián điệp vậy. Ở đàm trường, Ðinh Hữu kể chuyện anh tham dự chiến dịch Ðiện Biên Phủ, rồi bỏ Cộng Sản vào Nam, mang theo bệnh ho lao trầm trọng. Anh viết lại những chuyện trinh thám tiếng Pháp sang tiếng Việt cho các báo in để lấy tiền mua thuốc trị bệnh. Anh phê bình Koestler, Dotoievsky... Sau mấy năm, bệnh lao giết Ðinh Hữu. Con người đi kháng chiến, đánh nhau với Pháp không chết, chấp nhận chết vì lao phổi. Chỉ có anh em bạn bè đưa đám, không vợ, không con, chúng tôi đưa anh tới nghĩa địa Quảng Ðông lầy lội. Hôm đó, trời mưa, thắp nhang lên bị ướt phải nhóm lửa lại. Ðường trở về rất buồn...” (tr. 77-78)
Vẫn theo lời thuật của tác giả Ðỗ Quí Toàn, cái đàm trường đó nói đủ thứ chuyện. Nhưng liệu nó có cung cấp được bài học nào cho những ai từng đến nghe hay không? Ðỗ Quí Toàn trả lời cho câu hỏi này:
“Ðiều Ðỗ Ngọc Yến và tôi học được nhiều nhất là những lời cụ Quỳnh bàn về chủ nghĩa Marx và kinh nghiệm sống với các cán bộ đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời kháng chiến, trước khi cụ về thành. Nghe nói cụ về thành trong một sứ mạng nào đó, kiếm cớ để đi luôn. Cụ là người hiếm hoi ở Việt Nam đã học được cuốn Tư Bản của Karl Marx. Cụ bảo mấy người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam chẳng mấy người đã đọc kể cả ông Hồ Chí Minh. Cụ không gọi bọn họ là Cộng Sản mà luôn luôn gọi là ‘Anh em Ðệ Tam’ hoặc lúc bực mình gọi là ‘bọn Ðệ Tam’. Có hồi người ta coi cụ thuộc nhóm Trốt kít, Ðệ Tứ vì cụ từng ở trong nhóm Hàn Thuyên cùng với Trương Tửu trước chiến tranh. Các cụ gọi đảng Cộng Sản là bọn Ðệ Tam cho thấy cụ vẫn có lòng tôn trọng các anh em Ðệ Tứ. Cụ không gán mọi lỗi lầm cho chế độ Stalin và bọn đồ đệ của ông ta ở Việt Nam, cho chủ nghĩa Cộng Sản nói chung. Trong cái đàm trường đó, còn nhiều anh em Duy Dân nữa. Chúng tôi đến đó vì văn nghệ, vì ham làm thơ, viết văn chứ không dính tới các đảng phái chính trị. Nhưng phải nói rằng chính nhờ nghe những người ‘vỡ mộng chủ nghĩa Mác’ nhất là nghe kể kinh nghiệm của Ðinh Hữu, Nguyễn Ðức Quỳnh đã sống với Cộng Sản, nhận được những bài học thực tế của nhiều người cùng thời đó, tin tưởng là họ nói thật, chẳng có lý do gì để họ phải nói dối mấy cậu thanh niên như chúng tôi, cho nên Ðỗ Ngọc Yến, Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, chúng tôi sau này không bao giờ có một ảo tưởng nào về chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Cụ Quỳnh có lối nói rất quả quyết, là 'không thể nào chơi với bọn Ðệ Tam được!' Những điều cụ trải qua và những hiểu biết của cụ về chủ nghĩa Marx khiến chúng tôi bị thuyết phục. Mà rõ ràng cụ không làm công việc đó vì tham vọng chính trị nào cả. Cụ coi văn nghệ là cái nghiệp cao quý nhất”.( tr. 81)
(IX)
Hôm xảy ra cuộc biểu tình trước tòa soạn Người Việt vì một bài thơ tiên đoán thời cuộc của Nhân Quang trong mục Xuất Hành trên giai phẩm Xuân của Người Việt, một vài người biểu tình bỏ tiền vào cột đựng báo trước tòa soạn lấy báo ra và xé. Một bà trong số người biểu tình thấy thế, cúi xuống nhặt hết các mảnh vụn báo Người Việt định bỏ vào thùng rác thì một hai người trong nhóm cản lại. Họ nói: “Báo Người Việt giàu lắm, cứ để cho chúng nó thuê người dọn”. Không ai trong số chúng tôi phiền trách gì về những lời lẽ này cả vì chúng tôi đều hiểu ít điều về lịch sử của tờ báo mà chúng tôi cộng tác. Thành hình từ năm 1978 cho tới nay đã trải qua 28 năm. Những người sáng lập cũng như các cộng tác viên từ lúc đầu của tờ báo đã làm gì trong suốt 28 năm ấy? Họ không thể đi ăn cướp hay mua gian bán lận. Họ cũng không thể tống tiền tống bạc gì ai. Tất cả đều gầy dựng từ số vốn nhỏ nhoi của những người sáng lập và khi đạt được lòng tin của độc giả thì khách hàng quảng cáo và rao vặt tìm đến. Ðó là lẽ đương nhiên ở đời. Họ là những người tiếp máu để cho cơ thể của tờ Người Việt cứng cáp hơn. Cái lẽ đương nhiên ấy được tác giả Ðỗ Quí Toàn trình bày bằng những dòng sau đây:
“Cái mộng từ đầu của anh chàng (Yến) là làm một tờ báo thật sự là tờ báo, không phải tờ truyền đơn chính trị. Có một lần ký giả báo New York Times phỏng vấn, Ðỗ Ngọc Yến nói anh coi tờ Le Monde là kiểu mẫu muốn theo. Trong tờ báo Le Monde từ sau Thế Chiến Thứ Hai, các ký giả cũng là chủ nhân của tờ báo có quyền quyết định, để giữ vai trò thông tin trung thực và bình luận công bằng vô tư. Nhưng văn phòng báo Người Việt thì không giống báo Pháp, không hay lý luận bàn tán mà chỉ tường thuật, vì ở đây mọi người quen đọc lối viết báo Mỹ. Cái chí nguyện của Yến làm một tờ báo cho ra báo thành tựu được nhờ con người có ý chí, nhất định làm bằng được, với ý định từ đầu là anh em cùng làm thì cùng hưởng không một người nào đóng vai ông chủ. Tất nhiên báo Người Việt tồn tại được dù phải chờ hơn mười năm sau mới phát triển là nhờ chị Lã Phương Loan cũng kiên trì không kém. Chị chịu đựng một ông chồng say mê nghề báo, bỏ hết các thứ để đi làm báo, dù không kiếm ra đồng nào trong những năm đầu tiên, cả hai vợ chồng Yến chia sẻ với tất cả anh chị em cộng sự, lúc rau cháo có nhau, khi khá giả cũng có nhau. Trong những năm khó khăn đó, bạn bè đi làm chỗ khác, kiếm ăn khá giả họ yên thân hơn, nếu bà Loan là người có bản năng lo cho mình và cho các con mạnh hơn, chắc Ðỗ Ngọc Yến không thể ôm giữ tờ báo mãi để một mình bà vợ đi làm kiếm tiền nuôi các con được”.
Theo lời tác giả Ðỗ Quí Toàn, Yến có cái bản tính nhìn người thì thấy cái thiện, cái tốt trong người đó trước, có cái tính ngây thơ của một hướng đạo sinh. Thấy ai cũng tốt, nên ai cần gì cũng giúp, có khi việc của tờ báo mình thì không lo mà đi lo giúp các báo khác nữa. Những người chung quanh phải kêu lên là chạy theo Yến mệt quá. Nhiều lần làm ơn mắc oán. Trong cuộc đời làm báo ở hải ngoại, không thiếu cảnh những người được Ðỗ Ngọc Yến giúp, khi đủ lông đủ cánh quay lại ném bùn vào Yến. Nhưng bên cạnh sự chia sẻ hào hiệp, Ðỗ Ngọc Yến có tật bốc đồng, đang làm chuyện này nhảy sang chuyện nọ, người chung quanh anh phải lo dọn dẹp càng mệt hơn nữa. Trong trang 84, cũng nói về bản chất hào hiệp của Yến, Ðỗ Quí Toàn viết:
“Cái tính rộng rãi của Ðỗ Ngọc Yến thì tôi biết ngay từ lúc 15, 17 tuổi. Trong đám bạn bè, Yến là người có tiền nhiều hơn anh em vì có gia đình tương đối khá hơn chút đỉnh. Tôi vừa đi học vừa đi kèm trẻ để sống. Có bữa không có gì ăn sáng, đói quá tôi bỏ lớp học, đi bộ tới bác Nhân ở hẻm Cầu Kho xin chén cơm chiên. Trần Dạ Từ lúc đầu ở nhà bác Nhân, mẹ Nguyễn Thụy Long, sau mới kiếm được việc sửa bản vỗ (thầy cò) ở một tờ báo văn nghệ học sinh. Phí Ích Nghiễm (bút hiệu Dương Nghiễm Mậu), Viên Linh, Nguyễn Khắc Giảng cũng là những học trò nghèo tự túc, Viên Linh và Giảng lớn tuổi hơn, mèo mỡ sớm hơn, cũng tự lập sớm hơn. Yến tương đối là một ‘công tử’ trong bọn, còn được cha mẹ đùm bọc, tuy gia đình cũng chẳng giàu có gì lắm. Lúc đầu tôi cứ ngạc nhiên sao anh chàng này phí phạm thế. Thấy cuốn sách nào thích là mua hay thuê đọc liền, thấy phim hay là vào coi, không phải tính toán, hà tiện từng đồng như chúng tôi. Hồi Hoài Nam (tức Trần Dạ Từ) đi gặp Thu Vân (tức bà Nhã Ca sau này) rồi bị kẹt ở Huế không về được, anh em đóng tiền gởi ra 'chuộc' chàng về, Yến là người góp nhiều hơn các bạn. May mắn, sau Hoài Nam nhờ viết lách mà kiếm ra tiền và tự giải cứu, trả tiền khách sạn, mang được cả cô bồ về Sài Gòn trước con mắt thán phục của bạn bè. Còn Yến thì được mẹ cho đồng nào, đem tiêu chung với anh em. Cái quần, cái áo ai cần cũng cho luôn. Sách quý cũng cho nốt...”
Hào phóng của một con người không phải chỉ có chuyện tiền bạc. Thời giờ, công sức và mối quan tâm đến người khác, theo tác giả Ðỗ Quí Toàn, cũng có thể gọi là hào phóng. Theo tác giả, Ðỗ Ngọc Yến là điển hình cho loại người ăn cơm nhà vác ngà voi. Các cụ sẽ mắng là “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì khôn”. Ðỗ Quí Toàn viết ở trang 85:
“...Khi còn trẻ, Ðỗ Ngọc Yến chuyên giúp anh em khuân vác khi dọn nhà cho các cậu sống một mình mà lại có bồ rồi như Giảng, Viên Linh. Yến coi chuyện giúp cho căn phòng của họ có đủ cái bàn, cái ghế, cái giường là một bổn phận. Bữa Nhã Ca từ Huế vào Sài Gòn, anh em đi đón. Riêng Yến thân hành đến trụ sở Air Vietnam để lãnh hành lý của cô gái Huế đem về tổ ấm mới thuê được của Từ và Nhã trong xóm Chi Lăng Phú Nhuận. Về sau khi ở California, mỗi lần có người bạn mới từ đảo qua hay từ Việt Nam sang, Yến thường chu đáo lo cho họ. Anh chàng nói như một chuyện tất nhiên: ông bà ấy phải ở gần trường tốt cho mấy đứa nhỏ chúng đi học chứ? Phải kiếm cho ông ấy cái xe chứ? Bà ấy cũng cần cái xe đi chợ đi búa chứ? Nghĩa là chuyện gì mình cũng phải lo cả, đã là bạn bè thì phải giúp lẫn nhau như vậy. Và theo đúng tinh thần hướng đạo, làm việc thiện cũng như khi cắm trại, làm xong không để lại dấu vết cho người ta biết”.
Những đức tính của Ðỗ Ngọc Yến qua cách nhìn của những người thân nhất của anh từ thuở thiếu thời được phản ảnh với những câu chuyện của Ðỗ Quí Toàn và Ðỗ Tăng Bí. Tôi không biết đây có phải cách sống và lý tưởng của hầu hết tầng lớp thanh niên như Yến vào những thập niên cách đây cũng khá lâu hay không, nhưng ít ra những người bạn thân của anh cũng nhận định là “Yến sống cái đạo làm người đã hấp thụ được trong phong trào Hướng Ðạo từ hơn 50 năm trước đây”. Ở trang 89, Ðỗ Quí Toàn viết:
“Yến nhiễm được những qui tắc sống giản dị của 10 điều luật, ba lời hứa, như trọng danh dự, giữ lòng trung tín, trọng trách nhiệm, giúp ích mọi người bất cứ lúc nào, gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi, coi thiên hạ đều là anh em. Nhiều em thiếu sinh cũ trong các đoàn Tây Hồ, Phan Bội Châu, bây giờ đã 60 tuổi vẫn nhớ anh Yến. Hướng đạo tạo một khung cảnh để anh chị em khuyến khích nhau sống hiền lương. Những châm ngôn kể trên đã in dấu trong lòng mình, trổ thành một nếp sống mà suốt đời mình vẫn cố hướng tới, anh em bảo nhau cùng cố mà hướng tới, đến già cũng không bỏ. Tôi không biết thế hệ trẻ bây giờ có sống theo lối như vậy hay không. Sống như thế trong lòng mình thấy bình an, hạnh phúc hơn.”
“Chúng tôi may mắn khi lớn lên được sống nhiều năm mà đất nước chúng ta vẫn còn giữ được nền nếp văn hiến cũ. Năm mươi năm trước đây, chúng tôi có thể đi cắm trại ở đồng quê hay sườn núi, cắm lều bên bờ hồ, bên ruộng lúa, để các thứ ở đó rồi đi thám du suốt ngày, tối về lều trại vẫn còn nguyên không lo mất cái gì hết. Vào cắm trại trong vườn trái cây, chủ nhân cho phép tha hồ hái trái mà ăn. Khi tới một thành phố lạ hỏi thăm đường là nhiều người giúp đỡ, chỉ bảo. Ði đâu cũng không lo bị trấn lột mà cũng không sợ cảnh sát công an đến hỏi giấy hay vòi tiền. Trong một xã hội như thế, chúng tôi vẫn giữ được lòng kính trọng các bậc đàn anh, những người lớn tuổi. Và lúc nào cũng nghĩ mình có bổn phận với lớp trẻ đi sau mình.”
“Thời đó kỹ thuật tuyên truyền chính trị chưa phát triển đến mức làm mất niềm tin của con người. Bây giờ, người ta không còn tin vào các khẩu hiệu nữa, cho nên dạy trẻ em những tiếng như Danh Dự, Tín Nghĩa, Yêu Nước rất khó. Ngày đó chúng tôi nói đến chữ Dân Tộc, Dân Chủ, Tự Do và cảm thấy ý nghĩa những chữ đó thấm thía, nó gây một nỗi hào hứng đầy ngập trong lòng mình. Ðó là lúc Quách Thoại viết:
Có người hỏi tôi đang làm chi đó?
Xin trả lời, tôi đang khóc lệ nhỏ
Trên vòng hoa tình ái của cuộc đời!
“Quách Thoại kêu lên: 'Ôi tự do, thật vô cùng quyến rũ!' Và mình thấy tự do quyến rũ thật! Ngây thơ như thế đấy! Tôi ước ao tuổi trẻ nước mình có ngày sẽ khám phá lại tâm hồn Quách Thoại để sống hồn nhiên như anh. Cái thế hệ ngây thơ đó, bao giờ đất nước ta mới lại có được?”
(X)
Khi điểm cuốn sách trên, không thể quên được bài viết của nhà văn Hoàng Khởi Phong “Ðỗ Ngọc Yến như tôi đã biết”. Không thể quên không phải ông Phong là một nhà văn, mà chính là bài viết cho thấy một vài nét chấm phá trong giai đoạn đầu của nền báo chí Việt ngữ khi những người Việt Nam tị nạn chân ướt chân ráo đến đây đặt những viên đá đầu tiên cho một trong những cộng đồng Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Thuộc vào luồng sóng người đầu tiên đến nước Mỹ, tác giả “Ðỗ Ngọc Yến như tôi đã biết” đã trở thành một nhân chứng cho những bước khó khăn đầu tiên của nền báo chí Việt ngữ ở hải ngoại. Dĩ nhiên, tác giả đưa những nét chấm phá trên khung vải là theo trí nhớ của mình. Hoàng Khởi Phong viết ở trang 133:
“Từ sau tiệc cưới Nguyễn Khả Lộc, giao tình giữa Ðỗ Ngọc Yến và tôi bắt đầu trong buổi phôi thai của làng báo Việt ngữ tại hải ngoại, và rồi cuối năm 1978, tờ Người Việt Cali của Ðỗ Ngọc Yến ra đời. Cầm báo ra mắt từ Phan Huy Ðạt đưa cho, tôi chỉ nói một câu ngắn: “Bỏ quách cái chữ Cali đi để tờ báo có một địa bàn hoạt động lớn hơn.”
“Cũng trong thời gian này, một số báo chí Việt ngữ ra đời trong vùng Nam California từ năm 1975 cho tới 1978, theo trí nhớ của tôi thì gồm có: Tờ Hồn Việt ra đời ngay trong trại tị nạn Pendleton (Nguyễn Hoàng Ðoan, 9-1975), Quê Hương (Du Tử Lê, 1976), Trắng Ðen (Việt Ðịnh Phương, 1976), Phục Quốc (Trọng Minh, 1976), Ðất Việt tiền thân của tờ Việt Nam Hải Ngoại (Tô Văn, 1977), Bút Thép (Lê Tất Ðiều, 1978). Riêng tờ Tin Văn của Ðông Duy ra vẻn vẹn một số duy nhất rồi đình bản...”
Một nền báo chí ở giai đoạn phôi thai bao giờ cũng kéo theo những bất toàn trong những bài viết hay tin tức. Tin không phối kiểm, tin đồn không căn cứ, tin viết theo ý mình, tin bị bóp méo, trong tin chứa đựng những ý kiến riêng của phóng viên... là chuyện khó thể tránh được. Ngay trong hiện tại, 30 năm đã qua rồi, và sống ngay giữa lòng một nền báo chí tân tiến và tự do nhất thế giới mà chúng ta vẫn còn phải đọc những bản tin như những tờ truyền đơn chính trị huống chi ở vào những năm đầu sống lưu vong. Hoàng Khởi Phong nêu ra chuyện cựu Thiếu Tá Lê Xuân Phong Liên Ðội Trưởng Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Tuyên Ðức được tờ Trắng Ðen loan báo là đã trở thành một đại tá Tư Lệnh Kháng Chiến Lâm Ðồng Ðà Lạt, rồi đến khi tờ Văn Nghệ Tiền Phong thì ông Lê Xuân Phong đã trở thành thiếu tướng, trong khi thực tế Phong cũng bị kẹt tại Việt Nam và cũng đi tù như hàng trăm ngàn sĩ quan khác thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lý do rất dễ hiểu là vào thời gian đó làm thế nào mà phối kiểm được những nguồn tin, trong khi hầu như tất cả sĩ quan còn kẹt lại lại đều nằm trong hàng ngàn trại cải tạo. Một phóng viên chuyên nghiệp thường có một nguyên tắc, một tin nghi ngờ và không phối kiểm được thì tốt nhất là ném nó vào sọt rác hay chỉ để làm hồ sơ theo dõi, trừ phi anh ta dùng nó để viết một tờ truyền đơn tâm lý chiến. Dù gì thì đó cũng là con dao hai lưỡi: dùng tin không phối kiểm hay tin bị bóp méo có thể tạo dư luận một thời, nhưng khi người ta khám phá ra đó là tin “phịa”, sẽ không còn ai tin vào mình nữa. Thời gian ở trong trại cải tạo, anh em chúng tôi thường nhận được những tin gọi là “hot news” nghĩa là tin do những anh em tù nhân có thăm nuôi và gặp mặt gia đình mang vào chẳng hạn như tin “Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ xâm nhập Cao Nguyên lập chiến khu” hay “Tướng Ngô Quang Trưởng và Cao Văn Viên về lập chiến khu ở Lâm Ðồng...” Nghe được những tin này, một số anh em chúng tôi còn ngây thơ đến độ đem ra để hỏi các bạn tù khác thuộc lực lượng Fulro cùng ở chung. Tôi nhớ là tôi đã đem những cái tin này hỏi một ông đại tá trong lực lượng Fulro bị bắt năm 1982 ở Bảo Lộc là Y-k'Duon thì ông ta nói ngay “Mấy người đó chết rồi”. Chúng ta biết rằng người Thượng khi phải dùng nhóm chữ vừa kể vào lúc đó chính là phản ứng cho thấy họ không ưa và không tin những nhân vật trên. Tuy nhiên, khi được thả ra, trở về với gia đình ít tuần là chúng tôi hiểu ngay là những “hot news” trong trại giam chỉ là những tin phịa, cả về nguồn tin lẫn người chớp được tin ấy đều phịa hay tưởng tượng cốt mong sao giúp ổn định tâm lý để vượt qua những khó khăn trong đời tù cải tạo của mình mà thôi. Sang đến Mỹ khi nhắc lại, ai cũng cười.
Tuy nhiên, nếu có ai chịu khó đọc những e-mail gởi tràn lan hàng ngày trên máy tính điện tử nay tố người này, mai chửi người kia chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của những lối loan tin đơn giản, lạc lõng ấy trong một thế giới mà những mưu mô đen đúa không còn gì có thể che lấp được. Trong bối cảnh của những năm đầu tị nạn chưa ổn định, Hoàng Khởi Phong viết khá chi tiết sự khai sinh tờ Người Việt từ trang 135 trở đi:
“...Tôi chứng kiến tờ Người Việt Cali, tiền thân của tờ Người Việt từ những số báo đầu tiên. Ban đầu tờ báo là một tuần báo in khổ giấy lớn, trong khi đó tất cả những tờ báo Việt ngữ khác thì tờ Quê Hương, Phục Quốc, Bút Thép... đã đình bản, các tờ còn lại đều là khổ tạp chí như các tờ Hồn Việt, Văn Nghệ Tiền Phong, Trắng Ðen. Riêng tờ Ðất Việt tiền thân của tờ Việt Nam Hải Ngoại thì là báo khổ nhỏ. Mỗi tháng chỉ có bốn kỳ báo, mỗi cuối tuần, tôi đều thấy Ðỗ Ngọc Yến với chiếc xe cà khổ từ San Diego chở báo lên Quận Cam phát hành. Cũng cần ghi nhận là khi Ðỗ Ngọc Yến từ Texas sang thăm thú tình hình ở đây, chị Loan nhận được điện thoại của chồng cho biết anh sẽ ở lại đây làm báo, và sẽ về đón chị và các cháu khi nào công việc tạm ổn.
“Biết thế nào là tạm ổn khi mà trong túi vỏn vẹn có hơn ba ngàn đô la là tiền của hai vợ chồng chắt chiu dành dụm trong ba năm với rất nhiều lần đổi sở đổi việc để rồi khi chứng kiến sự tăng trưởng của cộng đồng Người Việt ở Quận Cam, Ðỗ Ngọc Yến đã có quyết định táo bạo là cấp tốc cho ra một tờ báo với nhân sự chỉ trần xì có một ông chủ nhiệm và ông Du Miên kiêm đánh máy, kiêm layout, kiêm phát báo cũng như nhiều công việc khác không có tên để gọi... Cứ đi đi về về như thế trong vòng vài tháng, rút cục trước khi ra tờ Người Việt Cali, Ðỗ Ngọc Yến cũng phải quay về Texas gồng gánh bầu đoàn thê tử qua California. Toàn bộ gia đình gồm sáu người đã khiến cho Ðỗ Ngọc Yến không thể ăn nhờ ở đậu bất kỳ nơi nào. Ông thuê một căn chung cư hai phòng ngủ, nhưng thật ra thì căn chung cư này đã do bốn thanh niên độc thân thuê sẵn trước đó mấy tháng trước, giờ đây bốn anh dồn lại ngủ một phòng, còn lại dành cho gia đình 6 người của Ðỗ Ngọc Yến. Tất nhiên, phòng khách chính là tòa soạn của tờ Người Việt.” Nhà văn Hoàng Khởi Phong nói nhân sự của Người Việt chỉ “trần xì” có hai người để cực tả cảnh khó khăn của tờ báo. Sự thật thì có nhiều bạn của Yến vẫn giúp anh trong những ngày đầu, như vợ chồng Nguyễn Hoàng Ðoan - Khánh Ly.
“Sau hai tháng tạm trú ở khu chung cư, người chủ chung cư yêu cầu cả nhóm phải dọn ra ngoài, bởi vì không thể chấp nhận một chung cư có hai phòng ngủ thôi mà chứa chấp tới 10 người. Ðầu năm 1980, gia đình Ðỗ Ngọc Yến dọn vào căn nhà 1005 đường Euclid và có thể gọi đây là trụ sở đầu tiên của báo Người Việt, với tòa soạn được đặt trong garage... Khi con số anh em làm việc trong tòa báo lên đến 10 người thì cái garage của căn nhà 1005 N. Euclid không còn chỗ chứa. Cũng khoảng thời gian đầu thập niên 1980 này, người Việt Nam khắp nơi dồn về Quận Cam, cộng đồng Việt Nam ngày càng rõ nét với khu thương mại Bolsa Mini Mall, một khu thương mại của người Mỹ đang xuống dốc với các cửa tiệm bỏ trống mỗi ngày một nhiều, các cửa tiệm Việt Nam trám chỗ ngay lập tức. Ðỗ Ngọc Yến là người có viễn kiến và có một bộ óc sinh ra để làm báo. Khi thấy có một gian trống trong khu này, ngay lập tức anh quyết định phải xông ra đặt báo quán ngay tại trung tâm khu thương mại Việt Nam...”
Vẫn theo Hoàng Khởi Phong, trong thời gian củng cố và phát triển kéo dài đến khoảng mười năm đầu, tờ Người Việt đã có nhiều anh em tứ xứ tụ về tiếp tay với Ðỗ Ngọc Yến. Trước tiên là Nguyễn Thiện Cơ và Lê Quang Dũng từ Na Uy sang tái định cư ở Mỹ vào năm 1979, sau đó là những người khác như Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Phước Quan, Võ Thành Ðiểm, Lê Minh Phú vượt biển, Lê Ðình Ðiểu từ Pháp qua, Nguyễn Thượng Hiệp từ miền Ðông về... Hoàng Khởi Phong nhấn mạnh đến một quyết định quan trọng của Ðỗ Ngọc Yến trong trang 138:
“...Ðể có thể tạo ra công ăn việc làm cho hàng chục anh em đến sau, tờ Người Việt ở vào thế phải bành trướng. Từ một tuần báo, tiến thêm một bước là mỗi tuần ra 2 số, và tất nhiên lương thì không thể nào trả đủ cho mọi anh em, rất nhiều lần Ðỗ Ngọc Yến đã phải kêu gọi mọi người đóng góp. Các anh Phan Huy Ðạt, Nguyễn Khả Lộc, Nguyễn Thiện Cơ, Lý Văn Chương, Tống Hoằng... chẳng những đã không được lãnh lương nhưng vì có công việc làm ăn vững chãi nên thỉnh thoảng cũng dốc túi cho tòa báo mượn tiền mà sau đó được tính thành cổ phần của tờ báo... Nhưng chỉ mới xông ra khu thương mại được vài tháng, cũng lại chính Ðỗ Ngọc Yến quyết định phải trở về chốn cũ bởi vì có những khó khăn về nhân sự không thể giải quyết được... Các nhân vật chủ chốt tách làm hai. Một nửa trụ tại khu Bolsa Mini Mall cho ra đời tờ Saigon, trong khi Ðỗ Ngọc Yến và một số anh em khác ôm tờ Người Việt quay trở về tòa soạn cũ trong cái garage của căn nhà đường Euclid. Sau này Ðỗ Ngọc Yến đã nhiều lần tâm sự khi nào có những tranh chấp và xung đột giữa anh em, Yến là người nhường nhịn tối đa”.
Khi một tờ báo phát triển, bành trướng tất sẽ có những thay đổi về nhân sự và sẽ có những ngả rẽ bởi nhiều lý do. Cho nên, vẫn theo Hoàng Khởi Phong, đã có những chủ nhân các tờ báo khác từng đi qua tòa soạn Người Việt. Hoàng Khởi Phong đưa ra những điển hình của những ngả rẽ như việc Nguyễn Thượng Hiệp rời tờ Người Việt để sang điều hành tờ Ðồng Nai của Dương Hữu Chương, hay Duy Sinh Nguyễn Ðức Phúc Khôi chào tạm biệt tờ Người Việt để cho ra tờ Việt Nam Tự Do. Yến không phải đối gì, trái lại còn giúp đỡ khuyến khích cho những tờ báo này ra đời, theo lời Hoàng Khởi Phong. Riêng đối với tờ Việt Báo, tác giả Hoàng Khởi Phong viết:
“Tờ báo thứ ba (chủ nhân Trần Dạ Từ và Nhã Ca) cũng khởi đi từ tờ Người Việt, Cuối thập niên 1980, Trần Dạ Từ và Nhã Ca được Thụy Ðiển can thiệp và đã thoát ra khỏi Việt Nam với cách của một người cầm bút miền Nam. Qua vài năm sinh sống ở Bắc Âu và cảm nhận được Thụy Ðiển không phải là chỗ dụng võ, Trần Dạ Từ và Nhã Ca đến Mỹ qua ngả Người Việt với thủ tục nhập cảnh như những nhân viên tối cần thiết cho một tờ báo Việt ngữ. Sau đó hai năm với sự hợp tác của các thân hữu khác, Trần Dạ Từ và Nhã Ca cho ra tờ Việt Báo...”
Theo Hoàng Khởi Phong, thủ tục bảo lãnh cho Trần Dạ Từ và Nhã Ca kéo dài nhiều năm nhưng đoạn nói về việc Ðỗ Ngọc Yến ký giấy tờ xác nhận với Sở Di Trú và Nhập Cư nhiều lần cho cặp vợ chồng Từ-Nhã thì anh Hoàng Khởi Phong nhớ không đúng lắm. Ðể tránh ngộ nhận về điểm này, Ðỗ Ngọc Yến cho biết có nhiều người và tổ chức khác đứng ra bảo đảm cho Trần Dạ Từ và Nhã Ca chứ không phải chỉ mình báo Người Việt. Và anh Ðỗ Ngọc Yến không phải ký giấy bảo đảm nhiều lần nhiều năm như anh Phong kể.
...
Trong những bài sổ tay vừa qua, với mục đích giới thiệu tuyển tập “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè”, tôi cố gắng đưa ra một số trích đoạn của một số tác giả trong 53 tác giả đã góp phần hoàn tất cuốn sách. Dĩ nhiên, có nhiều cách nhìn, cách suy nghĩ khác nhau về tuyển tập nói về một nhà báo mà hình ảnh của anh rất đậm nét trong lịch sử của cộng đồng này. Nhưng cũng như bao nhiêu người khác, bao nhiêu tờ báo khác, Ðỗ Ngọc Yến và tờ Người Việt thỉnh thoảng cũng lãnh búa rìu dư luận hay bị ngộ nhận. Nhưng chẳng bao giờ anh trả lời bằng cách phản công cũng như không bao giờ khuyến khích những cộng sự viên phản ứng đối với những lời chỉ trích hay thêu dệt. Sự thật sẽ trở lại vị trí của sự thật trong thời đại thông tin này. Ðọc tuyển tập của 53 tác giả, cái cốt lõi trong sự thành công khi làm báo của Ðỗ Ngọc Yến ở hải ngoại chính là lòng nhân từ của anh. Cái quá khứ của một nhà hoạt động thanh niên và xã hội lẫy lừng, có viễn kiến và sáng kiến sẽ chẳng giúp gì nhiều cho anh trong việc giữ vững và phát triển được tờ Người Việt nếu như anh không đủ sự tử tế để quy tụ những người bạn hoạt động với anh từ thuở thiếu thời, đội ngũ ký giả chuyên nghiệp và những nhóm chuyên viên tiếp cận thị trường đầy kinh nghiệm phục vụ. “Ðỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè” chưa phải là cuốn tiểu sử của Ðỗ Ngọc Yến, nhưng người điểm cuốn sách này vẫn hy vọng ít ra nó cũng giúp quý vị độc giả tự giải đáp những thắc mắc của mình về một nhà báo, một người làm báo Việt ngữ nổi tiếng ở hải ngoại.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|