|

Con Người Và Phong Tục.
Theo Sách Đại Nam Nhất Thống Chí tả về con người Kiên Giang như sau: "Kẻ sĩ biết chữ, dân siêng làm ăn qúa nửa làm nghề buôn bán, còn kỹ nghệ thì rất tầm thường. Ở gần biển thì làm lưới, đáy, cắm, đăng, câu để bắt cá, ở gần núi thì hay bắt chim muông hay tổ ong để bán. Người quân tử hay thích điều nghĩa, siêng năng việc công. Kẻ tiểu nhân (ý nói người bình dân) thì an thường thủ phận, không gian tham trộm cướp. Nhiều người hào hiệp hay trau dồi hoa sức, đàn ông ra đường hay che dù (vì sợ mưa) đàn bà ra đương hay trùm cái khăn bằng vải dài (vì sợ nắng) con gái trang sức sơ đạm bới tóc hay thả thòng ra sau. Tính người mau lẹ nữ công tinh xảo, hay đi thuyền giỏi nghề bơi (vì toàn là sông rạch; nếu không biết bơi sẽ bị chìm) ưa nóng ghét lạnh. Bệnh tật ít hay tìm thầy thuốc ưa dùng đồng bóng và phù pháp Cao Miên hay Xiêm. Gặp việc tang chế, theo Nho và cũng theo Phật. Cưới hỏi thì dùng ba lễ vấn danh, thỉnh kỳ, thân nghinh. Tính ưa thờ Phật... Đêm nguyên đán chiêm nghiệm khí trời trong sáng thì năm ấy được mùa màng lúa thóc, hoặc khí đất trong sáng thì được mùa sông biển... Tiết Thanh Minh con trai con gái tảo mộ ông bà gọi là đạp thanh. Tiết Trung Thu mời bạn hữu chung hưởng trăng thu. Còn tục của người Miên thì mỗi năm sắm đèn hương hoa quả phẩm đến cầu phước ở chùa. Tháng 8 có lễ rước nước, tháng 10 có lễ đưa nước (ngày xưa tôi còn nhớ cứ mỗi năm vào tháng 11 dương lịch khu vựa sông từ cầu tàu Mỹ ra tới cuối sân vận động những chiếc ghe Ngo của người Miên ở các chùa về đua theo ngược dòng nước. Họ đánh trống gảy hồ cầm. Lề rước hay đưa nước cũng như chúng ta gọi là lụt đến lụt lui vậy. Mạc Cửu làm Tổng Binh cai trị Hà Tiên đến năm Bính Thìn 1736 thì qua đời (theo Nhất Thống Chí ghi năm Ất Mão 1935). Chúa Nguyễn cho con là Mạc Thiên Tứ (Tích) kế nghiệp, lại gia ơn cho mở lò đúc tiền "Tứ chia đặt văn võ nha thuộc tuyển lựa quản binh, dựng công thự, đắp thành bảo, chia đặt đường sá chợ quán sau đó thương thuyền các nước vãng lai đông đảo. (theo Trinh Hoài Đức Gia Định Thành Thông Chí).
Mạc Thiên Tứ là người trọng văn học, thường mời các bạn văn sĩ tài nghệ tới đàm đạo thơ văn. Họ là những người gốc Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu hay cả từ phủ Triệu Phong, phủ Qui Nhơn hoặc phủ Gia Định cùng đến tham dự. Tứ mở Chiêu Anh Các, mua sách vở, cùng bạn văn xướng họa có thơ vịnh Hà Tiên Thập Cảnh. Từ đó văn phong mới truyền bá ra khắp miền biển này. Tứ cho khắc bản Hà Tiên Thập Vịnh & Minh Bột Di Ngư truyền lại cho đời. Đây là những áng văn tỏ tình ca ngợi và yêu thương đất nước cũng con người Hà Tiên. Thật đáng trân trọng.
Vào năm 1757, Cao Miên có loạn, quốc vương Nặc Tôn trốn chạy sang Hà Tiên. Thiên Tứ xin vua (tức chúa Nguyễn) cho hộ tống về nước. Nặc Tôn cảm đức đó bèn cắt cho 5 phủ, Chân Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh, Cần Bột, Hương Ức. Thiên Tứ đem dâng quốc triều, vua cho qui vào Hà Tiên quản hạt, rồi lập đạo Kiên Giang đạo Long Xuyên ở đất Cà Mau, đều đặt quan lại cai trị.
Vào năm 1772 nguỵ vương nước Xiêm là Phi Nhã Tân đem quân sang cướp phá Hà Tiên. Thiên Tứ lui giữ trấn Giang (Cần Thơ).
Vào năm 1775 chúa Duệ Tông chạy vào Nam Thiên Tứ đến hành tại Gia Định bái yết rồi trở về Trấn Giang chiêu tập nạn dân. Vào năm 1977 Tây Sơn chiếm Long Xuyên Thiên Tứ sang Xiêm cầu viện, bị Phi NhãTân nghi ngờ rồi giết ông ở Xiêm. Vào năm 1787 Nguyễn Ánh thu phục được Hà Tiên Vào năm 1788 đem hai đạo Kiên Giang và Long Xuyên cải thuộc về trấn Vĩnh Thanh. Vào năm 1808 đặt hai huyện Kiên Giang & Long Xuyên vẫn do đạo quản hạt. Vào năm 1810 lại đưa hai huyện trên về Hà Tiên. Vào năm 1825 bỏ quản đạo đặt tri huyện. Ở trấn hạt thì đặt huyện Hà Tiên & đặt phủ An Biên để coi cả ba huyện trên. Vào năm 1832, phân hạt goị là tỉnh Hà Tiên, và cải phủ An Biên thành phủ Khai Biên, huyện Hà Tiên làm huyện Hà Châu. Vào năm 1833 Lê Văn Khôi nổi lên chiếm lĩnh Hà Tiên, tuỉnh thành thất thủ liền bị quân Xiên xăm lăng có đại binh của Trương Minh Giản đến tiễu trừ mới yên được. Vào năm 1834, đổi lại phủ khai biên, lấy đất Cần Bột Hưng Ức làm phủ Quảng Biên và phủ Khai Biên.
Vào năm 1936 triều đình cử Trương Đăng Quế & Trương Minh Giản làm vuiệc đạt điền lập địa bạ cho 6 tỉnh Nam Kỳ. Toàn tỉnh Hà Tiên làm xong và được Kiểm thực vào ngày 3 tháng 6 năm Minh Mạng thư 17.
Vào năm 1839, đặt phủ Tịnh Biên lấy hai huyện Hà Dương & Hà Âm làm phủ mà tỉnh quản hạt. Vào năm 1842, Thiệu Trị trả đất Quảng Biên cho Cao Miên đem phủ Tịnh Biên và hai huyện cho thuộc tỉnh hạt An Giang. Vào năm 1867 Pháp đem quân tới chiếm 3 tỉnh miền Tây, Hà Tiên bị chiếm ngày 24 tháng 6 (Chỉ sau Vĩnh Long có bốn ngày). Lúc đầu, Pháp giữ ranh giới hành chính như cũ. Sau thay đổi dồn nhập chia cắt ra thành 20 hạt và hai thành phố Sài Gòn Chợ Lớn;. Tỉnh Hà Tiên Cũ chia làm 3 điạ hạt là: Hà Tiên, Rạch Gía, Bạc Liêu. Địa bàn Hà Tiên mới là huyện Hà Châu cũ, Rạch Gía là Kiên Giang còn huyện Bạc Liêu là huyện Long Xuyên cũ cộng với hai tổng xưa thuộc An Giang*.
*Dầu thời Pháp thống trị, sự phân chia hành chánh của Hà Tiên thật phức tạp và theo một qúa trình quanh co: Sau ngày 15 tháng 6 1867 vẫn tồn tại ba huyện cũ hay là hạt nhưng Pháp chỉ đặt Tham Biện ở Rạch Gía để cai trị huyện Kiên Giang và ở Cà Mau để cai trị huyện Long Xuyên. Còn ở Hà Tiên chưa đặt tham biện vì địa bàn nhỏ hẹp ngày 1 tháng 8 1867, Pháp thấy Cà Mau còn vắng vẻ nên chuyển tham biện về Hà Tiên để trông nom việc giao thương với Xiêm và các xứ khác trong vùng. Bỏ toà bố chính ở Cà Mau, đưa huyện Long Xuyên thuộc về hạt Rạch Giáa. Lúc ấy Rạch Giáa là địa hạt lớn nhất Nam Kỳ. Đảo Phú Quốc đã có một thời là địa hạt riêng.
Xin tóm tắt lại như sau:
a) Tỉnh Hà Tiên nằm trên địa phận huyện Hà Châu cũ, vì đất hẹp người thưa nên hai lần suýt bị bãi bỏ: Ngày 12 tháng 1, 1888 Hà Tiên bị sáp nhập vào Châu Đốc, ngày 27 tháng 12 1892 lại phục hồi vị trí tỉnh, và từ năm 1913 đến năm 1924 một lần nữa Hà Tiên thuộc về Châu Đốc.
b) Đảo Phú Quốc đã trở thành hạt biệt lập từ 1874 đến 1975.
c) Tỉnh Rạch Gía lúc đầu chỉ cai trị huyện Kiên Giang sau quản nhiệm Long Xuyên cho tới năm 1882.
d) Tỉnh Bạc Liêu được thành lập ngày 18 tháng 7 1882 gồm hai tổng Thạnh Hoà, Thạnh Hưng của tỉnh An Giang cũ cùng với ba tổng Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Hưng của huyện Long Xuyên thuộc tỉnh Hà Tiên cũ.
Năm 1836, khi đạc điền lập địa bạ cho sáu tỉnh Nam Kỳ, thì Hà Tiên là một tỉnh đất rộng mà lại thưa dân nhất nước. Vì Hà Tiên ở cuối chiều xuôi của S, từ ranh giới Cam Bốt tới đảo Phú Quốc xuyên qua mũi Cà Mau, là một vùng đất chưa được Khẩn Hoang Lập Ấp cho đến nay đã 169 năm từ một vị trí thưa dân rộng đất. Hà Tiên bây giờ với hai tỉnh Kiên Giang, Cà Mau (Minh Hải) đã tiến được những bước phát triển thần kỳ để trở thành những vùng sản xuất lúa gạo, hải sản đứng đầu cả nước.
Lịch Sử
Theo cổ sử Hà Tiên thuộc vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ XVII trên các bản đồ cổ của Trung Quốc, Hy Lạp Va Ả Rập chưa thấy vẽ rõ ràng phần đất này và chưa thấy ghi một địa danh nào minh bạch. Nguời Bồ Đào Nha là những nhà hàng hải đầu tiên của phương Tây hồi tiền bán thế kỷ XVI đã tới thám hiểm và vẽ điạ phận này tương đối khá chính xác. Họ ghi trên địa điểm thị trấn Hà Tiên địa danh CAROL. Đến nay, vẫn chưa biết xuất xứ Carol từ đâu ra, nhưng chắc chắn nơi đây đã là một bến cảng trao đổi hàng hóa "Quốc Tế" rất sớm có từ cuối thế kỷ XV. Không chừng khi ấy đã có thương nhân Đại Việt tới đây buôn bán. Sau này địa danh CANCAO được đặt thay cho điạ danh CAROL.
Tên CANCAO có lẽ bởi chữ Cảng Khẩu mà ra. Chúng ta vẫn chưa biết CAROL có liên quan gì với CANCAO không.Tiếp thời kỳ trên Trịnh Hoài Đức đã ghi chép về lịch sử Hà Tiên khá rõ "Hà Tiên nguyên đất của Chân Lạp tục xưng là Mang Khảm, tiếng tàu goị là Phương Thành khi ban đầu Mạc Cửu, người xả Lê Quách Huyện Khang Hải, phủ Lôi Châu tỉnh Quảng Đông nước Đại Minh vào năm 1680 nhà Minh mất Cửu không phục chánh sách nhà Thanh để tóc dài chạy qua phương Nam ở tại Nam Vang nước Cao Miên. Thấy nơi phủ Sài Mạt, của nước ấy có nhiều người Ngoại Quốc như Trung Cao Miên Đồ Bà tụ tập mở sòng bạc trưng thuế gọi là thuế Hoa Chi. Cửu bèn trưng mua thuế ấy lại bắt được cái hầm bạc nữa, nên mau phát triển giàu có Cửu lại chiêu mộ dân phiêu ở Phú Quốc, Lũng Kỳ Cần Bột Vũng Thơm Rạch Gía Cà Mau lập làm 7 thôn xã. Tương Truyền tại xứ Hà Tiên có các vị tiên thường hay xuất hiện, nên cho đó gọi là Hà Tiên. (Mạc Cửu sai hai thuộc hạ Trương Cầu và Lý Xá đệ biểu văn trần tình đến kinh đô Phú Xuân để xin làm quan".
Mùa Thu tháng 8 năm Mậu Tý 1708 theo thống nhất chí và một số sử liệu khác lại là năm Giáp Ngọ 1714, Chúa Nguyễn Phước Chu sắc phong cho Mạc Cửu làm Tổng Binh Trấn Ha Tiên với tước Cửu Ngọc Hầu. Cửu lập dinh trại đồn trú ở đất Phương Thành, nhân dân càng ngày càng qui tụ đông đảo. Vậy là trước năm 1708 đã có nhiều dân phiêu lưu ở Phú Quốc Lũng Kỳ (cũng goị là Vũng Kè) Cần Bột tức (Kampot) Vũng Thơm tức (Kompong Som), Rạch Giá, Cà Mau rồi để cho Mạc Cửu " lập thành 7 thôn" tất nhiên trong đó cũng có số ít người Hoa, người Miên, người Đồ Bà (Chà Và). Phải chăng người Việt đã có ở Hà Tiên từ thời còn được goị la `Carol hay Cancao đây là cánh cửa nghiên cứu còn bỏ ngỏ, dành cho các nhà cổ sử học đặc biết đối với những vi thức giảa nguyên gốc hoặc làm việc lâu năm trên địa phận Hà Tiên hay Kiên Giang Cà Mau (Minh Hải).
Năm 1836, khi đạc điền lập địa bạ cho sáu tỉnh Nam Kỳ, thì Hà Tiên là một tỉnh đất rộng mà lại thưa dân nhất nước. Vì Hà Tiên ở cuối chiều xuôi của S, từ ranh giới Cam Bốt tới đảo Phú Quốc xuyên qua mũi Cà Mau, là một vùng đất chưa được Khẩn Hoang Lập Ấp cho đến nay đã 169 năm từ một vị trí thưa dân rộng đất. Hà Tiên bây giờ với hai tỉnh Kiên Giang, Cà Mau (Minh Hải) đã tiến được những bước phát triển thần kỳ để trở thành những vùng sản xuất lúa gạo, hải sản đứng đầu cả nước.
Lịch Sử
Theo cổ sử Hà Tiên thuộc vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ XVII trên các bản đồ cổ của Trung Quốc, Hy Lạp Va Ả Rập chưa thấy vẽ rõ ràng phần đất này và chưa thấy ghi một địa danh nào minh bạch. Nguời Bồ Đào Nha là những nhà hàng hải đầu tiên của phương Tây hồi tiền bán thế kỷ XVI đã tới thám hiểm và vẽ điạ phận này tương đối khá chính xác. Họ ghi trên địa điểm thị trấn Hà Tiên địa danh CAROL. Đến nay, vẫn chưa biết xuất xứ Carol từ đâu ra, nhưng chắc chắn nơi đây đã là một bến cảng trao đổi hàng hóa "Quốc Tế" rất sớm có từ cuối thế kỷ XV. Không chừng khi ấy đã có thương nhân Đại Việt tới đây buôn bán. Sau này địa danh CANCAO được đặt thay cho điạ danh CAROL.
Tên CANCAO có lẽ bởi chữ Cảng Khẩu mà ra. Chúng ta vẫn chưa biết CAROL có liên quan gì với CANCAO không.Tiếp thời kỳ trên Trịnh Hoài Đức đã ghi chép về lịch sử Hà Tiên khá rõ "Hà Tiên nguyên đất của Chân Lạp tục xưng là Mang Khảm, tiếng tàu goị là Phương Thành khi ban đầu Mạc Cửu, người xả Lê Quách Huyện Khang Hải, phủ Lôi Châu tỉnh Quảng Đông nước Đại Minh vào năm 1680 nhà Minh mất Cửu không phục chánh sách nhà Thanh để tóc dài chạy qua phương Nam ở tại Nam Vang nước Cao Miên. Thấy nơi phủ Sài Mạt, của nước ấy có nhiều người Ngoại Quốc như Trung Cao Miên Đồ Bà tụ tập mở sòng bạc trưng thuế gọi là thuế Hoa Chi. Cửu bèn trưng mua thuế ấy lại bắt được cái hầm bạc nữa, nên mau phát triển giàu có Cửu lại chiêu mộ dân phiêu ở Phú Quốc, Lũng Kỳ Cần Bột Vũng Thơm Rạch Gía Cà Mau lập làm 7 thôn xã. Tương Truyền tại xứ Hà Tiên có các vị tiên thường hay xuất hiện, nên cho đó gọi là Hà Tiên. (Mạc Cửu sai hai thuộc hạ Trương Cầu và Lý Xá đệ biểu văn trần tình đến kinh đô Phú Xuân để xin làm quan".
Mùa Thu tháng 8 năm Mậu Tý 1708 theo thống nhất chí và một số sử liệu khác lại là năm Giáp Ngọ 1714, Chúa Nguyễn Phước Chu sắc phong cho Mạc Cửu làm Tổng Binh Trấn Ha Tiên với tước Cửu Ngọc Hầu. Cửu lập dinh trại đồn trú ở đất Phương Thành, nhân dân càng ngày càng qui tụ đông đảo. Vậy là trước năm 1708 đã có nhiều dân phiêu lưu ở Phú Quốc Lũng Kỳ (cũng goị là Vũng Kè) Cần Bột tức (Kampot) Vũng Thơm tức (Kompong Som), Rạch Giá, Cà Mau rồi để cho Mạc Cửu " lập thành 7 thôn" tất nhiên trong đó cũng có số ít người Hoa, người Miên, người Đồ Bà (Chà Và). Phải chăng người Việt đã có ở Hà Tiên từ thời còn được goị la `Carol hay Cancao đây là cánh cửa nghiên cứu còn bỏ ngỏ, dành cho các nhà cổ sử học đặc biết đối với những vi thức giảa nguyên gốc hoặc làm việc lâu năm trên địa phận Hà Tiên hay Kiên Giang Cà Mau (Minh Hải).
(Theo BSEI, Nouvelle série, Tom XX Anée 1945. Sài Gòn, 1945 tr 28&29.
Số Lần Chấm:
(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)
|