Bài Viết Xã hội

Ông Chú Họ

Nguyễn thị A Tiên

Sáng 30 tháng 4 năm 1975 hai vợ chồng chúng tôi cùng một số người thân ngồi quanh chiếc máy thu thanh chờ nghe tin tức. Khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh nói: “...Cùng các anh em trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam...”, vài người vui mừng thốt lên:

- Ông Dương Văn Minh mà “anh, em” với Việt Cộng thì mình sợ gì!

Ðến khi nghe “...Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện...” thì mặt người nào cũng xanh lè, tiu ngỉu. Một người quen khuyên chồng tôi, một sĩ quan, nên tạm thời ẩn náu tại nhà ai đó có liên hệ với Việt Cộng, để tránh những bất trắc trong cái nhá nhem của buổi giao thời. Chồng tôi nghe lời. Chúng tôi nghĩ đến thím Hùng ở Phú Nhuận. Chồng thím tức chú Hùng là chú ho của chồng tôi. Ông theo Việt Minh rồi tập kết ra Bắc. Thím Hùng ở lại Sài Gòn, làm ăn khá giả và nuôi người con trai duy nhất ăn học đến nơi đến chốn. Tuy chỉ là cháu họ, nhưng vì có thâm tình và nhiều kỷ niệm với chú Hùng hồi nhỏ, nên chồng tôi thường lui tới thăm viếng thím Hùng. Hai bên ít khi nghĩ đến nghịch cảnh giữa hai chú cháu.

Thật ra chỉ cần một mình anh ấy ẩn náu nhưng tôi cũng đi theo. Chúng tôi đã nguyện sống chết, sướng khổ gì cũng chia sẻ cho nhau. Chúng tôi đến đây được một ngày thì có hai người đàn ông, một lớn tuổi và một trẻ tuổi, đến nhà. Nhìn thái độ của người lớn tuổi đối với thím Hùng, tôi biết ngay ông là chú Hùng. Trái với tưởng tượng của tôi, có vẻ như chú Hùng đã lui tới nơi đây nhiều lần rồi. Tôi bối rối nhìn ông chú họ, không biết nên mở lời như thế nào.

Chú Hùng nói đùa vài câu gì đó với vợ ông rồi nheo mắt một cách vui vẻ nhìn chúng tôi:

- Ai đây mà tôi không hân hạnh được biết kìa?

Có lẽ ông nhại một câu hỏi của ai đó, chắc là trong một vở kịch, để pha trò. Ðiều này làm tôi cảm thấy tự nhiên hơn.

Không để chúng tôi kịp trả lời, thím Hùng nói:

- Bộ anh không nhớ An sao? An và vợ nó đó.

- À, An. Thấy lạ hoắc, làm sao nhớ ngay ra được.

Ông ngẫm nghĩ một lát rồi tiếp:

- Có an tâm tư tưởng không? Có nghe nói đến chánh sách 12 điểm không?

Chồng tôi trả lởi một cách yếu ớt:

- Dạ có.

- Thế có biết cộng sản là gì không, có sợ cộng sản không?

Thấy anh không trả lời, ông nói:

- Cộng sản là như thế này này. Xem nào! À, trong chủ nghĩa cộng sản con người làm tùy sức hưởng tùy cần. Muốn tiến lên chủ nghĩa này, phải qua một thời kỳ quá độ gọi là chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này con người làm tùy sức hưởng tùy tài; làm ít ăn ít, làm nhiều ăn nhiều; nghĩa là tránh việc người bóc lột người.

Ông ngập ngừng một lát rồi tiếp:

- Lý thuyết thì như thế...

Ông lại có vẻ ngập ngừng, chuyển qua đề tài khác:

- Các cháu phải tuyệt đối tin tưởng vào chánh sách 12 điểm của Mặt trận, không làm điều gì sai trái.

Sau đó ông lại nói qua chuyện khác nữa, phần nhiều là chuyện chiến đấu.

Tôi lấy làm lạ tại sao khi kể chuyện chiến đấu, chú Hùng không hề nói đến những chuyện sôi động nhất gần đây, mà chỉ nói đến những chuyện xa lăng lắc trong thời kỳ chống Pháp. Chú tế nhị, sợ làm mất lòng chúng tôi chăng?

Trưa hôm đó thím Hùng dọn một bữa cơm khá thịnh soạn cho tất cả mọi người, nhưng tôi không thể nào nuốt trôi được vì “ngổn ngang trăm mối bên lòng”. Trong bữa cơm An nói chuyện với chú Hùng có vẻ tự nhiên hơn, phần nhiều là chuyện khoa học kỹ thuật. Nhân việc An nói về hàng hải thiên văn, một môn mà An rất ưa thích, chú Hùng hỏi An:

- Theo cháu, về mặt khoa học không gian, Liên Xô và Mỹ, ai giỏi hơn?

- Theo cháu thì Mỹ giỏi hơn.

Ông gật gù:

- Nhưng hái một loại trái gì đó trên ngọn cây cao thì có cần phải leo lên không?

Thím Hùng xen vào câu chuyện. Thím cười nói:

- Việc gì phải leo cho mệt, lấy sào mà hái.

Chú Hùng cười nói:

- Phải. Liên Xô cho người máy lên mặt trăng lấy đất, đâu có cần leo lên như Mỹ.

Anh Hiền, hồi ấy là sinh viên y khoa năm cuối cùng, yên lặng ngồi ăn, nhưng trong đôi mắt buồn rầu của anh Hiền hình như có sự mỉa mai lời cha anh vừa nói. Nghe nói sáng hôm 30 tháng 4 anh Hiền đã ngồi khóc khi đoàn xe tăng của quân xâm chiếm ào vào thành phố.

Riêng tôi, dù ông nói thế nào đi nữa, tôi vẫn thấy ông giống như người chiến binh trong “Màu tím hoa sim” hay “Ðôi mắt người Sơn Tây” hơn là giống mấy anh Việt Cộng trên những cái bia tập bắn ở quân trường mà tôi đã nhiều lần trông thấy.

Ngày hôm sau chúng tôi nghe lời chú Hùng trở về nguyên quán. Trên đường đi, chồng tôi bị bắt và bị đưa vào trại tập trung cải tạo. Năm 1979 chú Hùng cùng tôi đi thăm An. Trong lúc chuyện trò, An hỏi nhỏ chú một câu mà tôi đoán ông không thể trả lời được:

- Chú có biết khi nào cháu được ra trại không?

Quả nhiên ông nói:

- Vô cùng khó khăn. Nhưng tuyệt đối tin tưởng vào chánh sách, đừng làm điều gì sai trái.

Ông nhìn ra cửa, nơi có một anh công an đang đứng, rồi nói:

- Ðừng làm như thằng Hiền. Ðã là bác sĩ, có một chỗ làm tốt, còn đi vượt biên, mất tích trên biển đông.

Ông quay mặt đi, cố dấu đôi mắt sắp rướm lệ.

Năm 1983 ngay sau khi chồng tôi vừa ra khỏi trại, chú Hùng đã đến thăm anh. Lúc bấy giờ chú đã phục viên. Chú có vẻ già và buồn hơn xưa.

- Ðời người trôi qua nhanh thật. Mới ngày nào cùng Ðại đội 10 tấn công quân Pháp tại Dương Sơn mà nay đã một phần ba thế kỷ rồi. An còn nhớ đám cưới chú không? Trước ngày chú vào bộ đội một tuần.

Nghe chú Hùng hỏi, An cười:

- Cháu nhớ như mới hôm qua.

Chồng tôi đã nhiều lần kể cho tôi nghe chuyện này. Hồi ấy An chỉ mới 8 tuổi. Tiệc cưới được tổ chức trong cái nhà thờ bỏ hoang tại một vùng quê miền trung gọi là vùng tự do, với sự tham dự của hầu hết bà con anh em cùng đi tản cư như ba má An, chị hai của An, em ruột của chú Hùng là chú Dũng... Nhà thờ này cũng là nơi ăn ở của mấy chục gia đình tản cư. Chú rể mặc quân phục bằng vải nội hóa màu xám gọi là vải xi-ta; còn cô dâu thì mặc bộ đồ bà ba đen. Tiệc cưới chỉ vỏn vẹn có ba bốn con gà xé phay, vài dĩa xôi và đặc biệt có sữa bò, một loại thức uống quý hiếm thời ấy. Cũng như mấy đêm trước, đêm tân hôn chú Hùng vẫn chìu ý An, ngủ bên cạnh An để An khỏi sợ Ma. Nhưng nửa đêm thức giấc An la lên vì thấy ông chú biến đâu mất. Mọi người hoảng hồn, đến khi biết được ai cũng bụm miệng cười. Sau đám cưới một tuần chú Hùng chính thức tham gia bộ đội Việt Minh. Chú từng là học sinh trường Tây nhưng rất ghét Tây. An kể lại rằng khi anh mới lên sáu, chú đã nói cho anh ấy nghe về những hòa ước bất bình đẳng giữa Pháp và triều đình Nguyễn như Hòa ước Patenotre. Chú kể bằng một giọng tức tối làm anh cũng tức theo dù không có ý niệm gì rõ ràng về những điều chú kể.

Tôi nhìn chú Hùng, tưởng tượng đến anh chiến binh trong “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Tôi nhìn bộ đồ xuề xoa chú đang mặt với cây bút máy trong túi áo, cây bút màu nâu đen có vân như gỗ đánh vẹc-ni. Tôi tưởng tượng cây bút này đã từng nắn nót viết cho thím Hùng những bức thư tình trong một buổi chiều tà trên ngọn đồi mọc đầy những cành sim tím. Tôi có cảm tưởng như cây bút đã theo chú hơn một phần ba thế kỷ, đã chia sẻ với chú biết bao nhiêu gian nan.

-Nhớ đấy! Tuyệt đối tin tưởng vào chánh sách, thi hành đúng đắn luập pháp nhà nước và những quy định của chính quyền địa phương.

Ông nói xong, siết chặt tay An và ra về.

Ðầu năm 1990 chúng tôi được đi Mỹ theo diện HO. Chúng tôi hầu như quên hẳn ông chú họ cho đến khi chúng tôi đi thăm chú Dũng. Chú Dũng đã qua Mỹ từ năm 1975, sống cô đơn một mình trong ngôi nhà khá rộng lớn. Chú Dũng cũng theo Việt Minh nhưng “lạc đường ray” qua vùng Pháp. Chồng tôi kể lại rằng hồi ấy tại vùng hoạt động của chú Dũng và chú Hùng có một con đường xe lửa, phía bên kia là vùng Pháp chiếm, phía bên này là vùng Việt Minh. Ai muốn theo phe nào, chỉ việc vượt qua đường ray đưa hai tay lên đầu. Có khi chỉ vì đi lạc mà một người trở thành Việt Minh hay Việt Gian như trường hợp chú Dũng trong một lần đi do thám đồn Lê Dương Pháp vào ban đêm. Lần đó bị Pháp bắt, vì giỏi tiếng Pháp nên chú được Pháp cho làm thông ngôn. Chú giỏi tiếng Pháp hơn cả những anh lính Pháp gốc Ðức nên rất được họ kính nể. Một thời gian sau chú được vào học trường Sĩ quan Nam Ðịnh và sau này trở thành một sĩ quan cao cấp.

Khi gặp chú Dũng, An hỏi ngay:

- Chú Hùng dạo này ra sao?

Tôi đinh ninh thế nào chú Dũng cũng cho tin tức về chú Hùng nhưng ông nói:

- Chú cũng không rõ.

Tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Hồi xưa, khi chưa khoác súng vào vai, nghe nói hai anh em nhà này thương yêu nhau lắm kia mà!

Năm 2000 chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên. Chưa đến 10 năm mà mọi cái đều thay đổi, từ cảnh vật đến con người. Tôi thấy hình như bấy giờ ở Việt Nam chỉ có một giá trị duy nhất là tiền. Mức sống cách biệt quá xa, làm cho người không tiền dễ bị người có tiền sai khiến và người có nhiều tiền thấy nơi đây là một loại thiên đường.

Sau khi quây quần với gia đình mấy người em hai hôm, chúng tôi thuê taxi đi thăm chú Hùng. Chúng tôi phải mất công hỏi đi hỏi lại nhiều lần mới có người biết chú Hùng và chỉ dẫn cặn kẽ:

- À, ông cán bộ Hùng. Nhà ông ta ở trong xóm, nhưng ông buôn bán gần đây. Ông bà đi thẳng phía này, bỏ 3 đường kiệt, đến kiệt thứ tư sẽ thấy cái quán trên che tấm ni-lông xanh.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi qua khỏi kiệt thứ ba thì thấy bên đường có một cái quán hay đúng hơn là một tấm ni-lông xanh che trên bộ bàn ghế tồi tàn. Chú Hùng đang khom người nhặt mấy cái vỏ chai nằm lăn lóc dưới đất nên không trông thấy chúng tôi.

An vội kéo tay tôi đi khuất vào trong đường kiệt:

- E chú Hùng sẽ ngại khi gặp bọn mình. Thôi về.

An không đợi trả lời, sẵn một chiếc taxi chạy ngang qua, anh ra dấu cho xe dừng lại, bảo tôi theo anh lên xe. Khi gần về đến nhà anh mới lên tiếng:

- Làm sao gặp chú Hùng đây?

- Nhắn chú xuống

- Không đi thăm, lại nhắn chú xuống?

-Cứ nhắn lên là có đi tìm nhà chú, nhưng tìm không ra. Chắc chú xuống.

Quả nhiên sau khi được tin, chú Hùng xuống gặp chúng tôi ngay. Chú vẫn với cái áo sơ mi trắng, quần ka-ki vàng và chiếc nón cối, ôm chầm lấy An mừng rỡ. Chú hỏi thăm tất cả bà con bên Mỹ nhưng không hề đả động gì đến chú Dũng.

Chú ở chơi với chúng tôi nguyên cả một ngày. Khi tiễn chú ra cửa; chờ lúc mọi người không để ý, An dúi vào túi chú 300 đô. Chú nhận tiền nhưng vẫn nói:

- Chú đã được nhà nước cấp tiền hưu trí đủ dùng, không cần lắm đâu.

Bước đi mấy bước, chú còn quay lui dặn dò:

- Nhớ, ở đâu cũng phải thi hành đúng đắn những luật lệ của nhà nước, đừng làm điều gì sai trái.

Ðó là lần cuối cùng chúng tôi gặp chú Hùng. Sau đó một năm chú mất, có lẽ vẫn chưa tiêu hết số tiền An biếu. Cho đến bây giờ những ý nghĩ về hai ông chú họ, nhất là về chú Hùng, vẫn ám ảnh tôi. Tôi không hiểu sao hai ông ấy lại lạnh nhạt với nhau đến thế. Họ tưởng họ có gì khác nhau lắm chăng?. Thật ra khoảng cách giữa hai anh em chỉ bằng bề ngang của cái đường ray xe lửa. Tôi cũng thắc mắc tại sao chú Hùng lại nghèo đến thế. Chú ấy thi hành quá đứng đắn luật lệ của nhà nước nên nghèo chăng?


Số Lần Chấm:  
8

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,648
Nguồn: nguoi-viet.com
Đăng bởi: Học Trò (4/30/2005)
Người gửi: