Bài Viết Văn hóa

Ý Kiến Của Nguyên Sa Về Thơ, Văn Qua Các Lần Phỏng Vấn

Nguyên Sa

1 . Trả lời nhà văn Nguyễn Nam Anh (Nguyễn Xuân Hoàng)
Tạp chí Văn, số 13&14, xuân Mậu Dần 1998

...Làm thơ, với tôi, bao giờ cũng cần có cảm hứng, có cảm hứng mới làm được thơ, không có cảm hứng thì chịu thua. Cảm hứng đưa tôi vào thơ, thời gian này, cũng như hơn bốn thập niên, luôn luôn đến đến từ sự xúc động chân thực. Có rung động thực và rung động gỉa, cho nên có cảm hứng thực và cảm hứng giả. Lúc hai mươi tuổi, đam mê tình ái mang thơ lại cho tôi. Tôi nghĩ thơ tình thời học trò mà tôi nói chuyện suy tư về hữu thể và hư vô là xúc động giả, sâu xa giả, thơ làm dáng không phải thơ. Khi tuổi già đã tới, không còn đam mê tình ái, cánh cửa của mỗi đời người sắp khép lại, những xúc động của những ngày tháng đối diện với sự thật của kiếp người, một cuộc tình hồi tưởng lại, một cuộc tình mơ ước, giọt sương mai mong manh, cơn mưa đến muộn, buổi hoàng hôn nơi quê người, người bạn thâm niên bỏ xứ vĩnh viễn...là nguồn cảm hứng hôm nay của tôi. Cảm hứng xây trên xúc động chân thực luôn luôn đổi mới cùng với kỹ thuật thi ca có suy nghĩ giúp cho sáng tạo tránh khỏi nhắc lại chính mình.

2. Trả lời nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh
(Nguyên Sa, tác giảa, tác phẩm 2 trang 276-277)

Thơ không có cách nào làm rực rỡ hơn ngoài ngôn ngữ. Ngôn ngữ biểu lộ cảm xúc của mình và quan trọng nhất. Kỹ thuật cũng như triết lý chỉ là phương cách phụ thuộc và là yếu tố hổ trợ. Nó không làm rực rỡ thi ca. Triết lý không có vị trí chính yếu trong thi ca ngoài vị trí chính yếu của nó trong triết học.

Nếu chủ trương mang triết học vào thơ, nó sẽ không thành thơ mà cũngchẳng thành triết lý. Triết lý phải có sân chơi riêng của nó. Vì sao ? Thơ cũng như âm nhạc, cái nghĩa lý của nó không quan trọng mà cái chính yếu là chính nó. âm nhạc hay chưa hẳn cần lời ca hay, những tác phẩm âm nhạc lớn dều không lời. Nhạc là xúc động chứ không là nghĩa lý. Xúc động vượt ra khỏi nghĩa lý của tư tưởng và ngôn ngữ. Trong thơ, cái hay của nó là chính nó, vì ngôn ngữ thơ là ‘sự vật’, không là ‘dấu chỉ’

Tôi xin cắt nghĩa điều đó. Chúng ta có ngôn ngữ chỉ đồ vật, cái bàn, cái ghế; có động từ cười, giỡn, phản ảnh niềm vui. Trong văn xuôi, tiếng nói, ngôn ngữ là dấu hiệu phản ảnh nội dung. Như đèn đỏ đầu đường biểu hiện của dấu hiệu cấm băng qua, chào bạn là dấu hiệu của sự thân ái. Văn xuôi là tiếng nói biểu hiện nội dung, là dấu chỉ.

Nhưng thơ phải khác. Phân tích một câu, hoa cười ngọc thốt đoan trang, không có ý nghĩa cười như hoa, lời như ngọc, như trong văn xuôi. Hoa cười, chỉ là một hình ảnh có chất gợi nhớ trong thơ. Nếu ra đường mà nói hoa cười với một cô gái thì chắc rằng cô ta sẽ cho rằng đang nói chuyện với một thằng điên. Nhưng hoa cười ngọc thốt đoan trang thì lại tuyệt vời trong thơ.

Thơ không phải là dấu hiệu phản ảnh một thực thể mà chính nó là một thực thể. Thơ biểu lộ một thực tại khác (hiểu theo nghĩa rộng). Thơ là một hữu thể riêng biệt.

Nhiều người đi tìm xem thơ phản ảnh điều gì. Phản ảnh là một việc, thơ còn có một đời riêng, là chính nó, cái đó mới là chính yếu. Khi tìm ra được cái gốc cốt lõi ấy rồi, thơ không phải là cái khác như triết lý, chính trị nó phản ảnh. Như tượng Phật, tượng Chúa, những biểu tượng tôn giáo...nó không đơn thuần là một đồ vật mà nó là những điều thiêng liêng không thể cắt nghĩa được. Ta không thể đơn giản hóa với thắc mắc như định giá trị bằng bao nhiêu tiền hoặc chế tạo bằng gì, mà phải chú ý đến phần biểu hiện của nó, thiêng liêng hơn.

3. Trả lời Nhà báo Lê đình Ðiểu
(Tạp chí Thế Kỷ 21 số 105 & 106 tháng 1 &2-1998)

Đầu tiên phải xác định rõ ràng rằng cái việc làm thơ mà cách tân về hình thức thì có nhiều người làm không? Tôi thấy hình như chỉ có cụ Phan Khôi là cách tân về hình thức để làm ra loại thơ mới, được hổ trợ bởi ông Thế Lữ. Còn Xuân Diệu, Huy Cận vẫn làm thơ tám chữ. Gọi là cách tân thì chỉ mình ông Phan Khôi cách tân chứ không thể nhiều người cách tân được. Còn như cụ Nguyễn Du thì không cách tân gì cả, làm thơ lục bát. Các cụ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương thì làm thơ Đường. Các loại này cũng không cách tân. Mà nếu như mỗi nhà thơ đều cách tân một loại thơ thì có mấy ngàn loại thơ thì.. nhiều quá.

Ngoài những thể thơ lục bát, ngũ ngôn, tám chữ, tôi có làm thơ thể tự do, số thơ thể tự do chiếm phân nửa số thơ tôi làm. Thơ tự do có cách tân không ? Tôi nghĩ nó không có cách tân bao nhiêu, vì nó cũng là một loại thơ nằm trong dòng tiến bộ của thi ca, từ khung khổ có vần điệu phá thể ra không vần điệu và nó được ảnh hưởng khá nhiều bởi thơ tự do của thế giới. Thơ phản ảnh rung cảm của chính người làm thơ, cái gì mà người ấy rung cảm mà làm đạt tới, thì giọt nước đó có chút ánh sáng lung linh của đại dương to lớn kia. Nhưng mà thể thơ thì tôi không nghĩ nó có vai trò to lớn ấy.

Trong thơ, tôi không thấy vượt hay không vượt, tôi chỉ thấy nó có khác không. Tôi thấy thơ sau này có khác thơ lúc trước. Mỗi thời kỳ thơ đều có nét riêng của nó. Còn nói hơn, vượt thì khó lắm, bởi vì mỗi tác giả tồn tại thì họ đã đạt được tuyệt đỉnh của loại thơ đó . Thơ tả cảnh của bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long Hoài Cổ chẳng hạn thì đạt tuyệt đỉnh của thơ đường tả cảnh. Làm thơ đường tả cảnh thì sẽ hay trong cách của thơ đường.

Còn làm thơ tự do tả cảnh thì sẽ đạt cái tuyệt đỉnh trong thơ tự do. Chỉ có khác biệt chứ không hơn kém. Không thể bảo bài thơ tự do đó vượt bài Thăng Long Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan . Bài thơ đã thành công tức nó đạt được tột đỉnh của nó (của tác giả đó chứ không phải nguyên loại đó). Thành ra khó lòng nói một bài sau vượt được bài trước, cũng không thể nói bài trước trùm lấp để bài sau không có chỗ đứng riêng. Mỗi bài thơ, mỗi thời kỳ đều có nét riêng của nó.

4. Trả lời tạp chí Văn Học ở Hoa Kỳ
Ba câu hỏi chung cho một số tác gỉa Việt tại hải ngoại
(Văn Học số 111 tháng 7-1995)

Vấn đề không có đủ thì giờ cho công việc sáng tác là vấn đề muôn đời. Ngòi bút không đủ nuôi sống nhà văn xứ nghèo như chúng ta cơm áo thúc phọc, nghề tay phải nghề tay trái, không có đủ thì giờ để viết, tay trái làm mệt tay phải. Ngay như những người không cần đến nghề tay trái, tay mặt lúc nào cũng thảnh thơi cũng không đương nhiên có đủ thì giờ, vì đôi khi có thì giờ thì không có cảm hứng, khi có cảm hứng lại thiếu thì giờ.

Thời gian này tôi hoàn toàn sống bằng nghề cầm bút, viết báo. Công việc này chiếm nhiều thì giờ, quả thật có gây khó khăn cho công việc ‘sáng tạo’, với tôi là viết truyện và làm thơ. Nhưng mặt khác, công việc sinh nhai này cũng mang lại cho tôi những trợ giúp trong việc sáng tạo. Thì giờ dành hoàn toàn cho viết lách, dù báo chí, tạo thành một thói quen sinh hoạt tinh thần, lắm khi có cơ hội bước qua sáng tạo cũng thoải mái. 

Ba câu hỏi:
- Viết để làm gì?
- Viết như thế nào?
- Viết Cho Ai?

Là những câu hỏi có một gắn bó triết học được Sartre làm nổi bật. Khi đã xác định viết cho ai, thì phải chọn lựa viết để làm gì và viết như thế nào . cũng có thề nói chính viết để làm gì làm cho chọn lựa viết như thế nào và cho ai.

Tôi xin phép trả lời một phần ở trong, một phần ra ngoài khuôn khổ triết học của những câu hỏi để có thể nói lên được nhiều tâm sự hơn.

Tôi viết văn và làm thơ bằng tiếng Việt, tôi viết cho người đọc tiếng Việt. Hiện nay tôi mong mỏi có người Việt Nam ở hải ngoại đọc tôi, và tôi hy vọng đồng bào tôi ở trong nước khi có tự do ngôn luận, tư tưởng và xuất bản, cũng sẽ đọc. Hành động viết và tiếp tục viết có biểu lộ một khuynh hướng lạc quan về ngôn ngữ Việt Nam, sự tồn tại của nó nơi hải ngoại, một khuynh hướng lạc quan về tương lai Việt Nam.

Tại sao viết? Trong những yếu tố triết lý, viết là hành động, là cách thể hiện hữu, yếu tố chính trị xã hội, viết là hành động dấn thân, là cách thế biến đổi thế giới, yếu tố tâm lý như sự thôi thúc của nhu cầu sáng tạo, trở thành chính mình, thể hiện bản thân, tôi cảm thấy gần gụi yếu tố tâm lý nhiều hơn.
Biết một phần nào viết cho ai, biết đại khái tại sao viết, tôi còn biết ít hơn vấn nạn viết như thế nào? Tôi vẫn nghĩ câu trả lời luôn luôn hậu nghiệm , ‘a posteriori’ Không thể tiên nghiệm, ‘a priori’được. Cũng không thể là hệ luận của ‘tại sao’ và ‘cho ai’. áp dụng một công thức để giải bài toán thì tốt. Sáng tạo theo một công thức, một định luật, sợ rằng có làm tổn thương cho sáng tạo. Mỗi lần sáng tạo là mỗi lần viết băng băng. Thảng có lúc suy gẫm về kỹ thuật sáng tạo của người đi trước, kinh nghiệm luật ba đơn vị của kịch trường Pháp thế kỷ 17, kinh nghiệm thơ tám chữ của tiền chiến, kinh nghiệm thơ tự do của Eluard, của Prevert, cũng có lúc rút tiả khinh nghiệm của mình, nhưng kinh nghiệm giải thích được từ tha nhân hay chính mình có thể trở thành khuôn thước trong công nghiệp tới sau, nhất định không quan niệm được như những định luật và những chỉ dẫn ý thức trong việc sáng tạo.

Hơn thế nữa, người sáng tạo nhiều khi còn loại bỏ những dấu vết của tha nhân và bản thân khi bắt gặp chúng vô thức lồng nhập vào trong tác phẩm. Tôi cũng mong có lúc có thì giờ nhìn lại xem mọi việc đã diễn ra ‘như thế nào’ . Lúc này còn kẹt quá. Tôi có thì giờ in ra cuốn thơ Nguyên Sa 3 như dự tính. Sau đó mong có thì giờ để hoàn thành cuốn Giấc Mơ. Sau đó, may ra mới có thể tính đến chuyện ‘như thế nào ?’

Nguyên Sa


Số Lần Chấm:  
4

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,770
Nguồn:
Đăng bởi: Thành Viên ()
Người gửi: 5
Người sửa: TVMT 9/9/2003; phuongcac 10/18/2002 4:20:11 PM